Văn mẫu lớp 12

Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ nhặt

Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ nhặt
5 (100%) 480 votes

Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ nhặt – Bài làm 1

Loading...

Văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám không chỉ giầu tính chiến đấu mà còn giầu tính nhân đạo . Hai tính chất này không tách rời nhau, luôn gắn bó khăng khít và hỗ trợ nhau cùng phát triển . Vợ nhặt của Kim Lân được hoàn thành vào thời gian sau năm 1955, trên cơ sở một bản thảo cũ viết ngay sau cách mạng tháng Tám 1945 . Khoảng cách mươi năm ấy đã giúp nhà văn thể nghiệm sâu sắc tư tưởng của tác phẩm , làm cho nó trở thành một tác phẩm mang những giá trị nhân đạo hết sức sâu sắc và phong phú .

van mau phan tich gia tri nhan dao cua tac pham vo nhat Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ nhặt

Tác phẩm bắt đầu bằng việc miêu tả sự đổi thay to lớn của xóm làng khi nạn đói tràn tới . Anh cu Tràng, một người vô tư, vui tính, được trẻ con yêu mến mà nay “đi từng bước mệt mỏi”, “cái đầu trọc nhẵn chúi về đằng trước” . Các lều chợ đầy những người đói bồng bế , dắt díu nhau “xanh xám như những bóng ma”… Nạn đói tràn đến đang gieo rắc cái chết và xóa mất sinh khí của xóm làng . Hình như không ai tin mình có thể sống qua nạn đói , và chính cái đói đã làm mất đi nhân cách con người như người đàn bà mà Tràng gặp . Giữa lúc ấy thì Tràng nhận người đàn bà kia làm vợ . Người ta thường nói cái đói làm cho con người trở nên mất giá . Cô gái theo Tràng chỉ vì một câu nói đùa và bốn bát bánh đúc làm cỗ cưới. Nhưng đó không phải là cách nhìn của nhà văn . Với cái nhìn nhân đạo, nhà văn nhìn thấy khát vọng sống còn bức thiết của cô gái . Ông cũng thấy niềm khát khao có được vợ của anh cu Tràng . Anh cũng liều lĩnh tắc lưỡi : ”Kệ” , cứ đón cô ta về đã .

Lòng yêu thương, trân trọng của tác giả đối với những người bất hạnh thể hiện ở cảnh dắt díu nhau về làng của cả hai người . Nhà văn không hề có chút rẻ rúng nào khi miêu tả cuộc về làng của họ . Trái lại ngòi bút tươi vui, dí dỏm, tinh tế khắc họa mọi cảm nhận hạnh phúc của Tràng . Hơn hai mươi lần truyện ngắn nhắc đến nụ cười của Tràng với nhiều sắc thái khác nhau . Đi bên thị, anh quên đi cảm giác ê chề , tăm tối của cuộc sống hàng ngày . Đó là gì nếu không phải do anh đã thấy ở cô gái một nguồn ấm áp tươi sáng tỏa rạng đời mình . Về cô gái cũng vậy, cô không hề có một chút mặc cảm thân phận “bị nhặt” . Bên cạnh dáng vẻ thẹn thùng của nàng dâu mới về nhà chồng, cô vẫn chế giễu Tràng “bé lắm đấy”, khi thì phết vào lưng anh và “khoặm mặt” lại với anh , khi thì mắng là “khỉ gió”… Cô vẫn cảm thấy mình có đủ sức mạnh đối với phái mạnh như bất cứ một cô gái bình thường nào khác . Họ thực sự hướng về nhau, thích thú nhau như mọi đôi tình nhân khi bắt đầu làm quen .

Điều thú vị là tác giả đã để cho hai người dắt díu nhau diễu qua trước mặt dân làng . Rõ ràng sự kết hợp của họ đem lại sinh khí cho cái làng đầy tử khí . Trẻ con thì gào lên “Chông vợ hài” . Người trong xóm thì “những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên . Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát , tăm tối ấy của họ ” . Họ không hiểu nổi , họ thở dài, họ nín lặng, bởi vì họ đang tuyệt vọng . Sự kết hợp liều lĩnh của Tràng và cô gái là một thách thức quyết liệt của khát vọng sống và khát vọng hạnh phúc trước mọi ý thức tuyệt vọng và tê dại vù nạn đói , và không phải không có tác dụng làm cho tâm hồn họ rạng rỡ hơn . Nhà văn như hoàn toàn khẳng định sự sống và ý chí sống còn của con người , trân trọng và yêu mến hành động liều lĩnh của họ trong đoạn văn này .

Nhưng tư tưởng chủ đạo của tác phẩm không chỉ có thế . Qua cuộc gặp gỡ với người mẹ và sau một đêm trở thành vợ chồng , nhà văn khẳng định tình yêu cuộc sống sẽ thắng được chết chóc, cuộc sỗng sẽ thay đổi .

Bà mẹ trước nạn đói cũng thất vọng và hoài nghi như mọi người “biết rồi chúng nó có nuôi nổi nhau qua được cơn đói khát này không”, bà cũng thở dài . Nhưng bà là mẹ, bà thấy sự “nhặt vợ” cũng là may, nên bà mừng lòng, bà nuôi hi vọng cho đôi trẻ . Bà mẹ nhìn con dâu lòng đầy thương xót , không chút coi thường . Bà nghĩ đến việc phải có dăm ba mâm cho phải lẽ , chứng tỏ trong lòng bà không vướng ý nghĩ “nhặt không người đàn bà”cho con mình . Đó là tình cảm nhân đạo có tác dụng nâng cao phẩm giá con người . Có thể nói Kim Lân chọn tình huống “nhặt vợ”, một tình huống con người bị đánh mất phẩm giá trong mắt mọi người ngoài cuộc để nâng niu, khẳng định phẩm giá của họ, những người trong cuộc .

Sau một đêm thành vợ chồng tại ngôi nhà nát, sáng hôm sau vẫn trong cơn đói khát , nhưng một không khí đầy sinh khí đã đến với tất cả mọi người . Ngôi nhà sạch sẽ, gọn gàng, ang nước đầy ắp … , người vợ trở nên hiền hậu đúng mực, còn Tràng thì “bỗng dưng hắn thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng … Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người…” . Một niềm tin vào tương lai gieo vào lòng mọi người : “Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nề nếp thì cuộc đời họ sẽ khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn . Chưa bao giờ trong nhà này, mẹ con lại đầm ấm, hòa hợp như thế” . Nhưng bữa ăn ngày đói đưa họ trở lại với hiện tại đói khổ, mặc dù trước đó họ luôn nói chuyên tương lai với những khát khao hạnh phúc , để họ nhận thức được muốn tồn tại phải hành động và Việt Minh là cánh cửa đưa họ tới ước mơ tươi sáng ngày mai, dù hiện tại trong suy nghĩ của Tràng, Việt Minh vẫn còn xa vời và đã có lúc Tràng chạy trốn Việt Minh bởi ở Tràng vẫn còn tồn tại hố sâu ngăn cách về nhận thức .

Loading...

Mở đầu tác phẩm là một tình huống truyện độc đáo, tình huống Tràng cưới vợ khác với tập tục truyền thống . Cốt truyện thay đổi theo sự vận động của những tâm hồn ham sống và cái tất yếu phải đến là sự vùng lên giải thoát của những thân phận đau khổ . Mặc dù hiện tại nhà văn chưa nói đến sự giác ngộ cách mạng của gia đình Tràng .

Tóm lại tác phẩm là một truyện ngắn chứa chan tình cảm nhân đạo . Nó khẳng định sức sống tiềm tàng trong mỗi con người và khát vọng hạnh phúc không gì có thể vùi lấp nổi . Đó là một tư tưởng nhân đạo mới mẻ , đầy tính chiến đấu 

Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ nhặt – Bài làm 2

Năm 1945 đã trở thành dấu ấn lịch sử  không thể phai mờ đối với mỗi con người Việt Nam, thời điểm đó không chỉ đánh dấu sự huy hoàng  của thắng lợi Việt Nam đánh đổ phát xít, thực dân và lật đổ chế độ phong kiến 1000 năm. Đưa nước ta trở thành một nước tự do dân chủ. Đó còn là giai đoạn ghi nhận những đau thương mất mát của dân tộc ta dưới họa xâm lăng. Sự bóc lột dã man tàn bạo của bọn phát xít thực dân và bọn phong kiến tay sai đã đẩy hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói. Trong hoàn cảnh ấy nhà văn Kim Lân đã dựng lên một tình huống nhặt được vợ. Tình huống ấy vừa để tố cáo tội ác của bọn bóc lột, vừa thể hiện niềm cảm thông với nỗi đau khổ của con người, vừa bày tỏ niềm tin vào con người:” dù cuộc sống có đau khổ đến đâu, nhưng con người vẫn thể hiện niềm yêu thương đùm bọc lẫn nhau vẫn không nguôi về khát vọng hạnh phúc, vẫn hướng đến một tương lai tươi sáng”. Đó chính là giá trị nhân đạo của tác phẩm.

Trước hết ta phải hiểu giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản trong tác phẩm văn học trân chính, nó được tạo nên bởi tình yêu thương của con người, niềm cảm thông sâu sắc với nỗi khổ của con người, sự nâng niu trân trọng những nét đẹp của con người hơn thế còn là lòng tin khả năng vươn dậy của nó.

Tác phẩm “ vợ nhặt” đã bộ lộ được niềm xót xa thương cảm đối với cuộc sống bi đát cú người dân nghèo trong nạn đói. Nạn đói được vi như một trận đại hồng thủy có sức tàn phá dữ dội. Những dãy phố úp sụp tối om :” những người đói dật dờ đi lại như những bóng ma”, “ không khí vẩn lên mùi ẩm mốc thối của rác rưởi và mùi gây gây của xác người” và đặc biệt hơn là âm thanh của tiếng quạ gào thê thiết. Bằng những hình ảnh đau thương của nạn đói, tác giả đã tố cáo được tội ác của bọn thực dân phát xít cùng bọn phong khiến tay sai. Chúng đã dồn người dân đến mức đường cùng của cuộc sống, làm cho bao người chết trong cảnh đói rách..

Tác phẩm còn đi sâu khám phá nâng niu trân trọng khát vọng sống và khát vọng hạnh phúc của con người. Tràng luôn khao khát hanh phúc, ẩn sau hình ảnh người đàn ông thô kệch chỉ biết làm lụng kia là con người cũng khao khát yêu thương. Trong hoàn cảnh kéo xe thóc mà anh vẫn buông lời trêu đùa để làm cho cuộc sống thêm tươi vui, anh đùa có ai đẩy xe cùng thì mời bữa cơm xôi giò. Tưởng chỉ là lời trêu đùa vui vơ mà có cô ra đẩy cùng, sau một hồi ăn 2 chập bánh đúc thì người đàn bà ấy theo về làm vợ. Anh cũng nghĩ đến cái đói đang khủng khiếp kia liệu mình có vượt qua được không mà còn thêm cô vợ, nhưng anh “chậc kệ”. Niềm khao khát hạnh phúc khiến anh vượt qua cái đói cái chết sắp tới. Trên đường về nhà khuôn mặt anh vui lạ thường.Thậm chí Kim Lân còn đẩy tình huống truyện đến đỉnh điểm khi miêu tả sự ngạc nhiên của Tràng. Bản thân anh cũng không ngờ rằng việc lên vợ lên chồng của mình lại dễ dàng đến thế, chỉ có bốn bát bánh đúc mà thành vợ thành chồng. Cho nên khi dẫn vợ về nhà, nhìn thất vợ giữa nhà Tràng vẫn không khỏi ngỡ ngàng. Đến bây giờ hắn còn ngờ ngợ không phải” ra hắn đã có vợ rồi đấy ư…”. Đến sáng hôm sau nhìn thấy ngôi nhà đã lâu nay đã được thu dọn sạch sẽ bởi bàn tay người vợ. Hắn không hết bàng hoàng ngạc nhiên việc hắn đã có vợ đến hôm nay hắn vẫn ngỡ ngàng như không phải. Điều đó còn được thể hiện ở ý thức bám lấy sự sống rất mạnh mẽ thể hiện ngay ở nhân vật người vợ nhặt. Chỉ có một câu tầm phơ tầm phào mà cô chấp nhận theo không người đàn ông xa lạ ấy để làm vợ, cô bỏ qua cả ý thức về danh dự và nhân phẩm của bản thân mình.

Không chỉ vậy mà Kim Lân còn đi sâu vào ý thức vun đắp cho cuộc sống gia đình của từng nhân vật. Với Tràng thì anh đã nhận ra được trách nhiệm và bổn phận của mình với hai người phụ nữ trong gia đình. Còn nhân vật thị thì thì hôm sau đã hoàn toàn thay đổi trở nên hiền hậu, đúng mực “ nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu gọ sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ địa vẫn vắt khươm, mươi niên ở góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch”. Đó là sự thay đổi ngỡ ngàng của thị và quang cảnh nhà sáng hôm sau. Còn bà cụ Tứ thì tạo thêm niềm tin cho các con về những dự định trong tương lai, việc nuôi gà, khuyên dăn con ai giàu ba họ ai khó ba đời, có ăn lên làm ra thì con cái sau này mới sung sướng. Và cuối cùng có lẽ tình thương bà dành cho đứ con trai và con dâu được thể hiện rõ nhất ở hình ảnh bát cháo cám. Người mẹ già không có gì trong hoàn cảnh này, bà lật đật chạy xuống bếp với khuôn mặt vui tươi bê nồi cháp cám lên ăn.

Kim Lân đã thắp lên cho gia đình bà cụ Tứ niềm tin hy vọng vào sự đổi mới.Trong bóng tối đau thương tấm lòng cao đẹp của người mẹ vẫn tỏa sáng. Dẫu biết rằng việc lấy vợ lấy chồng là việc không nên diễn ra vào lúc đói khát như lúc này nhưng bà cụ Tứ vẫn vui vẻ chấp nhận “ thôi thì các con phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng”. Kim Lân đã khéo tìm cho người mẹ già đau khổ ấy một câu nói ẩn chứa sự từng trải của người già, sự bao dung của người mẹ và quan niệm đẹp đẽ của người Việt Nam :”dù có đắng cay cực khổ như thế nào vẫn mừng lòng đón nhận con người, luôn luôn trân trọng con người”. Vì vậy lúc nhìn lại người vợ nhặt bà không thấy cô ta xa lạ nữa mà đã trở thành người thân thuộc:” bà lão nhìn người đàn bà lòng đầy thương  xót nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi”. Trái tim người mẹ mở rộng đón nhận người phụ nữ xa lạ, đón nhận người ấy là con, là người thân, là con dâu. Bà còn nuôi dưỡng niềm tin hy vọng cho những đứa con :” biết thế nào hả con? Ai giàu ba họ , ai khó ba đời. Có ra thì con cái chúng mày về sau…”. Bà an ủi con dâu :”kể có ra làm dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo cũng chả ai người ta chấp chi cái lúc này. Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi. Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá”. Câu nói tân tình và bao dung của người mẹ đã làm vơi đi bao tủi cực bẽ bàng của người vợ nhặt. Chỉ một câu nói ấy thôi cũng đủ làm cho người phụ nữ Tràng nhặt về có thể ngẩng cao đầu bước vào ngôi nhà này với tư cách là một người vợ, một người con dâu. Kim Lân không đã thắp lên niềm tin bằng hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng trong suy nghĩ của Tràng và hình ảnh người dân đi phá kho thóc của Nhật.

Nếu như trong tác phẩm “Chí phèo”,” Lão hạc” nhân vật chính muốn giữ được nhân phẩm thì phải chết, cái chết đau đớn nhưng làm lòng họ cảm thấy thanh thản hơn. Hay chị Dậu trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố cùng quẫn bởi sưu cao thuế nặng phải bán sữa mình cho ông cụ già 80 tuổi và cái kết là chị chạy ra ngoài trời tối không biết sẽ ra sao…những tác phẩm viết trước cách mạng tháng 8 thường chưa tìm thấy lối thoát cho nhân vật của mình.

Không những vật Kim Lân đã thể hiện được niềm tin sâu sắc vào phẩm giá, lòng nhân hậu của con người. Nhân vật Tràng chỉ là một thanh niên làm thuê nuôi mẹ,nhưng sẵn sàng bỏ tiền cho người đàn bà xa lạ bốn bát bánh đúc. Anh độ lượng, bao dung hào phóng và rất chu đáo với mẹ già. Anh sống luôn có tình nghĩa có trách nhiệm. Niềm tin ấy còn được thể hiện ở người vợ nhặt, sự biến đổi từ khi bước vào nhà. Nếu lúc trước người đàn bà này chua chát, chỏm lỏm thì giờ lại hiền hậu cư xử đúng mực lễ phép. Lúc mới gặp bà cụ Tứ thì chào hỏi, e thẹn. Sáng hôm sau thì đảm đang dọn dẹp nhà cửa. Đặc biệt trong bữa cơm sáng, mặc dù là bát cháo cám nhưng cô vẫn và vào miệng mặc dù mắt hơi nheo, bởi cô không lỡ làm mất đi niềm vui của người mẹ già khốn khổ kia. Có lẽ thể hiện sâu sắc niềm tin vào cuộc sống phải được thông qua bà cụ Tứ. Bà hết lòng yêu thương con cháu, hết mực cảm thông với nàng dâu trong hoàn cảnh này. Không những thế bà còn trăn trở những tháng ngày tiếp theo đứa con trai và con dâu bà sẽ sống ra sao. Những vượt lên hoàn cảnh ở trước mắt bà vẫn luôn tạo niềm vui trong gia đình bằng những lời khuyên dăn.

Bằng cái nhìn mới mẻ về cuộc sống của người dân sau cách mạng tháng Tám, Kim Lân đã vẽ lên một bức tranh hiện thực về nạn đói và cái chết đầy bi thương của những năm tháng này. Qua đó thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc góp phần tạo nên thành công trong tác phẩm. Từ đó ta thấy được chiều sâu so với các tác phẩm văn học hiện thực trước đó

Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ nhặt – Bài làm 3

“Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân và của văn học Việt Nam sau năm 1975. Truyện được in trong tập “Con chó xấu xí” (1962). Truyện “Vợ nhặt” có giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực sâu sắc. Thông qua tình huống “nhặt vợ” tác giả đã cho ta thấy nhiều điều về cuộc sống tối tăm của những người lao động trong nạn đói năm 1945 cũng như khát vọng sống mãnh liệt và ý thức về nhân phẩm rất cao ở họ.

Giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản của những tác phẩm văn học chân chính, được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau của con người, sự nâng niu, trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người và lòng tin vào khả năng trỗi dậy ở họ.

Trước hết tác phẩm bộc lộ niềm xót xa đối với cuộc sống thê thảm của người dân nghèo trong nạn đói năm 1945. Qua đó tố cáo tội ác tày trời của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra nạn đói. Bối cảnh chính của truyện “vợ nhặt” diễn ra ở một xóm ngụ cư, ở đó cái đói đang hành hạ mọi người, cái đói thấm đến tận cái nhìn vào cảnh vật. Con đường từ trong xóm chợ vào trong bến thì “khẳng khiu”, cái thứ ánh sáng đầu tiên hắt vào truyện là thứ ánh sáng nhập nhoạng mù mờ, không ra ánh sáng mà cũng không ra tối hẳn của buổi chiều tà “chạng vạng”. Trên con đường và thứ ánh sáng leo lét ấy hiện lên vật vờ ủ rũ những bóng người đói “xanh xám như những bóng ma”. Người sống nằm ngổn ngang khắp lều chợ, ngay cạnh là những “cái thây nằm còng queo bên đường”. Trên ngọn cây là hình ảnh bầy quạ “cứ gào lên từng hồi thê thiết”, văng vẳng bên tai là tiếng trống thúc thuế dồn dập, những đứa trẻ thì ngồi ở xó đường, không buồn nhúc nhích…một cuộc sống mấp mé bên bờ cái chết với cái không khí “vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”.

Thứ hai, tác phẩm đi sâu khám phá và trân trọng nâng niu khát vọng hạnh phúc, khát vọng sống của con người, trước hết là Tràng. Khi nhặt được vợ về Tràng không phải không biết “chợn”, “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không lại còn đèo bong”. Nhưng rồi anh ta “tặc lưỡi”: “Chậc, Kệ!”. Sau tiếng đó mọi sự đùa cợt lập tức khép lại nhường chỗ cho sự nghiêm trang và anh ta đã được đền bù: “Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề […], một cái gì đó mới mẻ, lạ lẫm chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng”. Cuộc đời cùng khốn đến mức việc mua có hai hào dầu cũng là cái gì đó hoang phí lắm “hai hào đấy, đắt quá”, “vợ mới vợ miếc thì cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ, chẳng nhẽ chưa tối đã súc ngay vào”. Hôm nay là một ngày khác hẳn, một sự kiện của đời Tràng, ngày Tràng có vợ và nhà cần phải sáng.

Tiếp đó là ý thức bám lấy sự sống rất mạnh mẽ ở nhân vật người vợ nhặt. Thị chấp nhận bỏ qua ý thức về danh dự để theo không Tràng. Như vậy hoàn cảnh bi đát một mặt đẩy con người vào chỗ quên cả danh dự để tồn tại, mặt khác nó lại làm bộc lộ lòng ham sống mãnh liệt của những con người ở dưới đáy xã hội như thị. Tất cả mọi người đều có ý thức vun đắp cho cuộc sống mới. Ngẫm nghĩ về nhân vật bà cụ Tứ ta còn thấy hóa ra chính bà lão gần đất xa trời này lại là người nói đến hy vọng đến ngày mai nhiều hơn tất cả: từ việc đan cái phên ngăn riêng chỗ của vợ chồng đứa con cho kín đáo, truyện “khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà”… “Mẹ chồng nàng dâu thu dọn cửa nhà, sáng hôm sau thị dậy từ sớm quét dọn nhà cửa cho ngăn nắp, gọn gàng” hình như ai nấy đều nghĩ rằng “thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể sẽ khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn”. Qua tác phẩm ta còn thấy niềm hy vọng về một cuộc đổi đời của các nhân vật được thể hiện qua hình ảnh lá cờ đỏ bay phấp phới vấn vương trong tâm trí Tràng.

Giá trị nhân đạo của truyện còn được thể hiện ở lòng tin sâu sắc vào sự đổi đời, vào lòng nhân hậu của con người. Tràng tuy có vẻ bề ngoài xấu xí nhưng cái đẹp tiềm ẩn bên trong của Tràng đó là sự cảm thông, lòng thương người, sự hào phóng chu đáo, Tràng đãi thị bốn bát bánh đúc, mua một chai dầu và mua cho thị một cái thúng con, đó là hành động rất bình thường nhưng nó thể hiện tình nghĩa và thái độ trách nhiệm của Tràng. Còn về người “vợ nhặt” thì đã có sự biến đổi về tính cách, trước khi về làm vợ Tràng, thi hiện lên với một vẻ chao chat, chỏng lỏn. Trước câu hò của Tràng thị cong cớn nói “có khối cơm trắng mấy giò đấy”, lần thứ hai gặp Tràng thị sưng sỉa nói: “Điêu! Người thế mà điêu”…Nhưng người đàn bà ấy sau khi về làm vợ Tràng đã thay đổi, vẻ chao chat chỏng lỏn ban đầu biến mất, thay vào đó là sự hiền hậu đúng mực, sự ý tứ trong cách cư xử: Thị đi theo Tràng với dáng điệu đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tang, nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt, khi về đến nhà thị chỉ dám ngồi mớm ở mép giường. Sáng hôm sau dậy từ sớm quét dọn nhà cửa…. Còn về bà cụ Tứ, bà thương con hết mực, cảm thông cho tình cảnh của nàng dâu mới “có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta mới lấy đến con mình, mà con mình mới có được vợ”, bà ân cần trong cách hành động với con dâu “con ngồi xuống đây, ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân”. Bà luôn trăn trở về nghĩa vụ làm mẹ của mình “chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi…còn mình thì”, trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt. Bà luôn cố tạo niềm vui cho gia đình giữa cảnh sống thê thảm. Người mẹ ấy sống vì con và tìm thấy ý nghĩa của đời mình trong sự chăm lo vun vén cho con.

Nổi bật nhất trong giá trị nhân đạo của tác phẩm đó là niềm tin tưởng sâu sắc vào con người lao động, vào bản năng sống, khát vọng sống mạnh mẽ của họ. Tình cảm nhân đạo của tác phẩm có nét mới mẻ hơn so với tình cảm nhân đạo được thể hiện trong nhiều tác phẩm văn học hiện thực trước cách mạng.

Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ nhặt – Bài làm 4

Sáng tạo nghệ thuật là sản phẩm tinh thần riêng của cá nhân người nghệ sĩ. Có những tác phẩm đọc xong người ta quên ngay, đến khi cầm lại mới ngỡ là mình đã đọc rồi. Cùng có những tác phẩm vừa mới ra đời được chào đón rầm rộ, sau đó người đọc lãng quên nhanh chóng. Bên cạnh đó, vẫn ngời lên những tác phẩm nghệ thuật đích thực, tựa như dòng sông chảy qua tâm hồn ta để lại những ấn tượng khắc chạm trong tâm khảm. "Vợ nhặt" của nhà vãn Kim Lân là một tác phẩm văn học như thế. Làm nên giá trị to lớn đó có nhiều lí do. Song một khía cạnh rất quan trọng chính là giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm. Nó bắt nguồn từ tấm lòng luôn biết yêu thương, trân trọng giá trị của con người ngay trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.

Đọc tác phẩm "Vợ nhặt", tôi thường nhớ đến câu nói của M. Gorki: "Con người! hai tiếng ấy vang lên kiêu hãnh và tự hào xiết bao". Phải chăng khi viết tác phẩm này thì Kim Lân – một nhà văn chuyên viết về đề tài nông thôn, một người con đẻ của đất đai, đồng ruộng đang muốn nâng cao giá trị con người lên một tầm cao mới mẻ hơn.

"Vợ nhặt" được viết không lâu khi Cách mạng tháng Tám thành công. Nó có tiền thân từ truyện ngắn "Con chó xấu xí" trong tiểu thuyết "Xóm ngụ cư” nước cách mạng, viết về nạn đói khủng khiếp năm 1945 đã cướp đi bao sinh mạng con người Việt Nam. Nhưng cái phần cốt lõi của tác phẩm có lẽ không chỉ nói đến cái đói và cái xấu xí, thô nhám của con người. Cao hơn nữa là giá trị nhân đạo tuyệt vời. Không chỉ là nhân đạo yêu thương, bênh vực truyền thống để đi vào bế tắc, không lối thoát như văn học hiện thực.

"Vợ nhặt" của Kim Lân đã vượt qua những bờ cõi và giới hạn để trở thành giá trị nhân đạo cách mạng. Tố cáo về tội ác của bọn thực dân, phát xít là đòn bẩy để cái nhân đạo có cơ sở vững chắc hơn. Tiếp cận với tác phẩm ta bắt gặp Tràng, bà cụ Tứ, người vợ của Tràng, biết bao khi  mặt u tôi, nhăn nhúm, méo mó vì cái đói đã tràn đến với sức hủy diệt đáng sợ. Bao trùm lên toàn bộ tác phẩm là sự thiếu thốn, khó khăn về vật chất.

Cuộc sống con người đến mức tối thiểu cũng không có được.

Cái đói đã được khắc họa đậm nét "tràn đến tự lúc nào". Sự sống cua những con người xóm ngụ cư trong đó có Tràng nhân vật đang ở mấp mé bờ vực thẳm.

Cõi dương lúc nào cũng lởn vởn hơi hướng của cái đói, tất cả đầy ám khí của cái chết.

Giá trị nhân đạo sâu sắc được thể hiện khi Kim Lân đi sâu vào nhân vật Tràng. Quả đúng là trong cái túng đói quay quắt, con người ta vẫn hi vọng, lạc quan bởi lẽ "sự sống chẳng bao giờ là chán nản". Giữa nạn đói khủng khiếp Tràng lại là một kẻ xấu xí, một nhân dạng được hóa công gọt đẽo quá sơ sài.

Tràng dường như là nơi tập trung những cái thô kệch, xấu xí, khác xa những cái chải chuốt của xã Hội văn minh, "hai con mắt nhỏ tí", "cái lưng to như lưng gấu", chưa kể đến cái tính của Tràng đâu có được khôn ngoan như người ta và đặc biệt là cái tật hay nói lảm nhảm, tiếng cười hềnh hệch, chưa kể Tràng là dân ngụ cư – một thứ cỏ rác ở hương thôn thời bây giờ. Bản thân đã vậy, nay đói khát làm cho hắn khốn khổ hơn. Dựng lên một nhân vật như Tràng có lẽ dụng ý của Kim Lân không phải đưa ra để làm trò, lòng yêu thương cảm thông của nhà văn đã đưa đến sáng tạo bất ngờ. Tràng có vợ. Có lẽ nhiều người sẽ ngạc nhiên lắm giữa thời buổi đói kém, thân mình còn chẳng lo được nói gì đến chuyện đèo bòng "ốc còn chẳng mang nổi mình ốc", cái triết lí đó chắc chắn sẽ được đem ra đối chiếu. Hơn nữa với một anh chàng xâu xí, có thể gọi là ế vợ, lại có vợ một cách hiển hách cứ như anh ta đào hoa tốt số lắm. Nhưng không! Đây không phải là một trò đùa nào đó. Người vợ mà Tràng "nhặt" được kia cũng là một số phận chẳng khác gì Tràng trên đường đời đầy khó khăn. Thị cũng vì quá đói, chỉ bốn bát bánh đúc cũng đủ làm Thị sáng mắt lên và theo Tràng về nhà thành chồng vợ. Bốn bát bánh đúc thật thảm hại trong ngày đói cũng đủ xe duyên cho một mối tình. Bảo rằng họ có tình yêu nào đó trước hôn nhân thì e chua chát quá. Dựng lên một tình thế quá éo le như thế là nhà văn đã đánh cuộc với cái đói, với số phận và lòng nhân đạo sâu xa đã tiếp cho nhà văn thêm sức mạnh, để ông đủ đúc tin vào con người. Cái đói cũng không thể diệt trừ sự sống và trong sự hủy diệt đó sự sống càng trở nên lung linh hơn.

Khát vọng về một tình yêu, một mái ấm gia đình có lẽ vẫn tồn tại trong mọi người, kể cả Tràng. Nó có sức mạnh hoàn cải mạnh mẽ, chẳng thế mà qua tác phẩm ta thấy cảm giác sung sướng của Tràng khi đi với cô vợ về nhà, một cảm giác vui sướng lâng lân "tựa họ như có ai vuốt nhẹ vào sống lưng”. Tôi rất xúc động trước những lời văn này của Kim Lân. Phải có một tài năng thiên bẩm và cao hơn là lòng nhân đạo thì ông mới làm cho người đọc trào nước mắt. Hạnh phúc của con người hóa ra bình dị đến thế. Đoạn văn Kim Lân tả cảnh Tràng sau đêm tân hôn thật tuyệt vời, "Trong phút chốc Tràng quên tất cả cảnh sống ê chề, tủi nhục”. Đặc biệt tiếng quét sân của vợ hắn sàn sạt nghe sao mà dễ thương đến thế. Đó là âm thanh cuộc sống, hạnh phúc gia đình. Người vợ quét dọn, mẹ dẫy cỏ, Tràng cũng muốn làm cái gì đó để làm cho căn nhà sáng sủa hơn. Dường như mọi người đều nghĩ thu dọn cho tươm tất thì cuộc sống có lẽ sẽ tốt đẹp hơn. Bữa cơm ngày đói thật thảm hại nhưng ai cũng thấy ngon. Phải chăng mỗi thành viên đang cảm nhận về cuộc sống gia đình, về tương lai theo những cách khác nhau. Song ai cũng hi vọng về cuộc sống sẽ khá giả hơn. Đọc tác phẩm, người dọc rất trân trọng bà cụ Tứ. Người mẹ khốn khổ ấy thật tiêu biểu cho những người mẹ Việt Nam. Niềm tủi thân cho con trai, cho chính bản thân mình và cho cả đứa con gái (cái Đục) xấu số cũng không thể ngăn cản bà chia sẻ hạnh phúc với con trai dẫu biết rằng "chao ôi người ta cưới vợ gả chồng cho con lúc ăn nên làm ra những mong có con đàn cháu đống" còn con mình lúc đói kém mới có được vợ… Lòng người mẹ nghèo ấy biết bao là xót xa, đau đớn. Nhưng thương con trai, bà thương cả con dâu “Chúng mày lấy nhau u cũng mừng lòng". Song biết có qua nổi cái thì đói này không. Những giọt nước mắt mà bà cố giấu như chứa vị đắng cay pha lẫn sung sướng. Nhất là dù hiện tại đáng buồn, bà cụ Tứ vẫn rất lạc quan "Ai giàu ba họ, ai khó ba đời". Những tính toán của bà cụ thực xúc động. Bà cụ đã chủ động vẽ ra trước mắt các con một tương lai tươi sáng. Không ai ngờ một người mẹ sắp gần đất xa trời rồi mà vẫn giữ một niềm tin sắt đá. Và niềm tin đó không phải là không có cơ sở. Hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc của Pháp – Nhật và hình ảnh của lá cờ đỏ sao vàng đã đưa tác phẩm ra khỏi phạm trù của văn học hiện thực. Lòng nhân đạo của Kim Lân không đi vào bế tắc. Nhà văn không đưa ra vấn đề và để đấy, không đặt nhân vật vào hoàn cảnh éo le không lối thoát. Một ánh hồng sáng tươi sẽ có sức giải thoát cuộc đời họ. Đó là cách mạng. Và do đó, giá trị nhân đạo của tác phẩm tỏa sáng một ý nghĩa mới – Nếu như Nam Cao vẫn được mệnh danh là nhà nhân đạo chủ nghĩa, nhà văn tầm nhân loại vì những tác phẩm "Chí Phèo", "Đời thừa", thì đọc tác phẩm "Vợ nhặt" của Kim Lân, ngoài việc ông đã nêu lên bể khổ của cuộc sống con người như truyền thống, ông đã vượt qua giới hạn của thời là trước.

Đọc tác phẩm "Vợ nhặt" của Kim Lân chúng ta cũng cần biết thêm giá trị nhân đạo tuyệt vời trong "Vợ nhặt" không chỉ bởi tài năng, thiên bẩm của nhà văn. Kim Lân cùng với người vợ của mình đã từng ăn cháo cám, đã từng sống lay lắt, khổ sở. Như vậy vốn sống và cao hơn là niềm cảm thông sâu sắc, niềm tin tưởng vào hạnh phúc con người vào tương lai. Có lẽ sẽ không quá nếu ta gọi ông là nhà nhân đạo chủ nghĩa?

Giá trị nhân đạo của tác phẩm "Vợ nhặt" làm người ta nhớ mãi. Nhớ để hiểu rằng sự sống chẳng bao giờ là chán nản. Để có được cuộc sống tốt đẹp hơn thì cần có một niềm tin. Khao khát hạnh phúc gia đình vốn đã trở nên vĩnh cửu với tất cả mọi người trên trái đất bất kể họ là ai? Là Tràng rồi Chí Phèo v.v… ngay trong hoàn cảnh bi đát nhất.

Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ nhặt – Bài làm 5

Nạn đói năm 1945 đã trở thành những ngày tháng tăm tối nhất của lịch sử Việt Nam. Từ Trung Kì đến Bắc Kì hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói. Giữa những ngày tăm tối ấy, "vợ nhặt" của Kim Lân như thổi làn gió mát, đem hi vọng vào tương lai tươi sáng cho người đọc bằng giá trị nhân đạo sâu sắc.

Giá trị nhân đạo nổi bật nhất chính là sự yêu thương đùm bọc lẫn nhau giữa người với người trong hoàn cảnh tăm tối bên bờ vực của cái chết. Hoàn cảnh tang thương lúc bấy giờ được Kim Lân miêu tả rất chi tiết. Người "xanh xám như những bóng ma, nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người".

Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, anh cu Tràng có vợ. Đây cũng là một giá trị nhân đạo của tác phẩm. Anh cu Tràng là một người nghèo, xấu trai lại có tật vừa đi vừa lẩm bẩm. Anh là người hội tụ đầy đủ yếu tố ế vợ. Nhưng ngòi bút nhân đạo của Kim Lân đã không để cho anh một mình. Nhà văn đã cho anh có một người vợ một cách dễ dàng. Chỉ bằng bốn bát bánh đúc, vài câu nói tầm phơ tầm phào, anh có vợ. Tràng và Thị đã làm cho người dân xóm ngụ cư dường như tươi mới thêm. "Những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên". Tràng và Thị như chiếc đèn le lói hi vọng cho mọi người vào tương lai. Điểm nhấn giữa Tràng và Thị chính là khoảnh khắc Thị nhìn thấy ngôi nhà"vắng teo, đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại". Thị đã biết tình cảnh không khác gì mình của Tràng. Nhưng Thị không chạy trốn. Nếu lúc trước, Thị trốn cái đói cái khát để theo không Tràng về làm vợ thì giờ đây Thị đã không chạy trốn. Hay Tràng dù lúc đầu cũng "chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không lại còn đèo bòng" . Nhưng sau cái chậc kệ, anh đã đưa Thị về nhà. Chính cái khát vọng hạnh phúc, khát vọng có một tổ ấm đã làm tăng tính nhân đạo cho tác phẩm. Mặc dù đang sống liền kề bên bờ vực của cái chết nhưng họ vẫn không muốn chết mà vẫn muốn sống hạnh phúc.

Câu chuyện gợi ý tương lai của bà cụ Tứ cũng thể hiện giá trị nhân đạo của tác phẩm. Trong lúc dặn dò con  chuyện làm ăn. Bà vẽ ra khung cảnh tương lai tươi đẹp trước mắt các con. "Nhà ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi may ra ông trời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau". Rồi trong bữa cơm đầu có dâu, bà lại vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu. Bà nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này". "Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem…". Những hi vọng đẹp đẽ về tương lai đã chút nào đó làm bừng sáng cả căn nhà của Tràng. "Chưa bao giờ trong nhà này mẹ con lại đầm ấm, hòa hợp như thế". Bà cụ Tứ còn đối xử với con dâu rất tốt. Bà thương con dâu: "Con ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân". Bà hạ giọng xuống thân mật: "chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…"

Vốn sinh ra từ một miền quê, Kim Lân rất hiểu đời sống của người dân. Viết "Vợ nhặt", tác giả đã đặt nhân vật của mình vào tình huống độc đáo, oái oăm, bi hài, nhân vật đã cảm thông, chia sẻ đồng điệu cùng nhân vật để cất lên bài ca nhân bản mạnh mẽ thiết tha về khát vọng cuộc đời. Con người dù có nghèo khổ đến đâu họ vẫn có quyền mơ ước một mái ấm gia đình hạnh phúc. Có lẽ truyện hấp dẫn người đọc qua nhiều thế hệ nhờ vào giá trị nhân đạo sâu sắc ấy.

Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ nhặt – Bài làm 6

Vợ nhặt  được in trong tập Con chó xấu xí, xuất bản năm 1962 được coi là một trong những truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Kim Lân. Tác phẩm viết về nạn đói khủng khiếp năm 1945, qua những trang văn sâu sắc và cảm động, Kim Lân bày tỏ, cảm thông sâu sắc với những số phận bất hạnh, từ đó làm nổi bật lên giá trị nhân đạo của tác phẩm.

Tác phẩm Vợ nhặt viết về nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu, cái nạn đói đã cướp đi sinh mạng của hơn hai triệu người từ Quảng Trị ra đến Lạng Sơn. Cái đói tràn qua gương mặt của từng người, tràn vào không gian…. Nhà văn đã tái hiện lại một cách chân thực thời khắc lịch sử mà ranh giới của sự sống và cái chết thật mong manh như làn khói.

Cái đói làm méo mó nhân cách, khiến Thị chẳng cần nghĩ đến tự trọng, cứ sà xuống cắm đầu anh bánh đúc chẳng cần chuyện trò gì rồi cắp thúng theo một người đàn ông xa lạ về làm vợ. Vậy là việc cưới xin cứ như một trò đùa, bốn bát bánh đúc là anh Tràng đã có vợ, và một nồi cháo cám lại là cỗ tân hôn. Nhà văn đặt các nhân vật của mình vào sự nghiệt ngã ấy để làm tỏa sáng tình người, tình đời, tỏa sáng chủ nghĩa nhân văn tha thiết, một sự thông cảm sâu sắc tới những con người bất hạnh.

Tình huống nhân vật Tràng quá nghèo khi đất nước lầm than đưa người đàn bà ngoài đường về làm vợ là tình người cao quý, là khát vọng hạnh phúc đáng trân trọng của con người. Còn Thị, một người đàn bà không tên, theo không Tràng về làm vợ không phải chị ta không hiểu nhân cách của mình mà vì sự sống, và chị cũng không mặc cảm với thân phận vợ nhặt. Bởi họ thật sự thương nhau, hướng về nhau như bất cứ đôi tình nhân nào.

Kim Lân cảm thương với nỗi niềm của bà cụ Tứ, nhà văn nghẹn ngào không nói hết. ông hòa cùng tâm trạng của bà cụ để buồn, lo, mừng vui lẫn lộn trước cơ sự đã rồi của con. Nhà văn đã nhìn thấy ở bà mẹ một tấm lòng vị tha, bao dung với đứa con dâu, không vì cái đói mà xua đuổi, hắt hủi thị mà suy nghĩ thấu tình đạt lí: Người ta có đói mới lấy đến con mình, mà con mình mới có vợ, bà mừng lòng cho các con nhưng vẫn không khỏi xót xa.

Ngòi bút Kim Lân luôn dí dỏm, vui tươi khi miêu tả nội tâm nhân vật. Hơn hai mươi lần nhà văn Kim Lân nhắc đến nụ cười của Tràng và khi đi bên thị, một người đàn bà gầy gò, quần áo rách như tổ đỉa anh không hề có một chút gì coi thường cô gái. Nhà văn đã gieo vào lòng người đọc niềm xúc động sâu xa về hạnh phúc con người. Không chỉ trân trọng khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc mà ông còn mở ra cho họ niềm tin vào tương lai tươi sáng. Ông đã gửi gắm tình yêu cuộc sống, niềm tin vào ngày mai sẽ chiến thắng ở người mẹ.

Cái đáng quý của người lao động nghèo khổ là họ nghèo mà không hèn, nghèo mà luôn yêu thương đùm bọc lẫn nhau, cho dù ở ngay bên bờ vực của cái chết nhưng vẫn luôn lạc quan và hướng về ngày mai tươi sáng, để tin và để sống.

Truyện Vợ nhặt mở đầu là buổi chiều chạng vạng, nhưng kết thúc bằng buổi sáng bình minh. Một kết thức chứa sức nặng nghệ thuật và nội dung tư tưởng tác phẩm, thoát ra khỏi kết cấu khép của văn học đương thời để bước tới phạm trù văn học cách mạng. Một kết thúc có cơ sở chắc chắc từ hiện thực đời sống mà nhà văn nhìn thấy để mở ra cho nhân vật của mình hướng đi. Đó cũng chính là tinh thần nhân đạo cao cả của nhà văn. Không chỉ thương cảm, chia sẻ nỗi khổ đau bất hạnh mà còn trân trọng, nâng đỡ họ vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc sống để vươn tới tương lai.

Từ khóa tìm kiếm nhiều:

  • giá trị nhân văng sáng hôm sau tràng nhặt được vợ