Văn mẫu lớp 12

Phân tích hình tượng cây Xà nu trong truyện ngắn Rừng Xà nu của Nguyễn Trung Thành

Phân tích hình tượng cây Xà nu trong truyện ngắn Rừng Xà nu của Nguyễn Trung Thành
5 (100%) 480 votes

Phân tích hình tượng cây Xà nu trong truyện ngắn Rừng Xà nu của Nguyễn Trung Thành – Bài làm 1

Loading...

Nguyễn Trung Thành là nhà văn có duyên nợ gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên. Qua hai cuộc kháng chiến cùng vào sinh ra tử với những người dân nơi đây đã cung cấp cho Nguyễn Trung Thành một vốn hiểu biết vô cùng sâu rộng về mảnh đất âm vang rộn tiếng cồng chiêng trong mùa lễ hội, nơi có những người con trung dũng, kiên cường. Nếu trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Trung Thành – bút danh Nguyên Ngọc nổi tiếng cùng “Đất nước đứng lên”; thì trong những năm kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là những năm 1965 khi cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam đang diễn ra gay go ác liệt thì Nguyễn Trung Thành cho ra mắt người đọc truyện ngắn “Rừng xà nu”. Tác phẩm này đã là một bản hùng ca, ca ngợi cuộc sống và con người Tây Nguyên trong cuộc chiến tranh vĩ đại. Và nổi bật hơn cả trong tác phẩm chính là hình tượng cây xà nu.

van mau phan tich hinh tuong cay xa nu trong truyen rung xa nu Phân tích hình tượng cây Xà nu trong truyện ngắn Rừng Xà nu của Nguyễn Trung Thành

Cây xà nu là một hình tượng nhân vật trung tâm trong truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành. Xuyên suốt trong tác phẩm ta bắt gặp những cánh rừng xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời. Cây xà nu là một loài cây quen thuộc, có mặt trong cuộc sống hàng ngày của người dân Tây Nguyên. “Củi xà nu cháy trong mỗi bếp lửa gia đình, khói xà nu nhuộm bảng đen cho con trẻ học chữ, đuốc xà nu rọi sáng sân nhà Ưng trong những đêm lễ hội…”. Tất cả mọi hoạt động dù lớn dù nhỏ của người dân Tây Nguyên đều có sự góp mặt của cây xà nu. Sự sống của dân làng Xô Man đều gắn liền với những cánh rừng xà nu. Khi Nguyễn Trung Thành viết : “Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc, chúng nó bắn đã thành lệ, ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và xẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy. Hầu hết đạn đại bác của đồn giặc đều rơi vào những ngọn đồi xà nu, cạnh con nước lớn”, nhà văn đã phản ảnh không khí căng thẳng của thời đại, gợi lên sự đối mặt quyết liệt giữa sự sống và cái chết. Nổi bật trên nền bối cảnh ấy, Nguyễn Trung Thành đã đi sâu miêu tả những đặc điểm nổi bật của câu xà nu. Cũng như bao loài cây khác, cây xà nu là một loài cây ham ánh sáng và khí trời “trong rừng ít có loài cây nào sinh sôi nảy nở khoẻ đến vậy… ít có loài cây nào ham ánh sáng đến thế” cũng có nghĩa là ham sống, khao khát muốn được vươn lên giữa bầu trời cao rộng.

Thế nhưng trong những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy, cũng như bao cánh rừng khác của Việt Nam, rừng xà nu đã bị tàn phá rất dữ dội “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào là không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão; ở chỗ vết thương nhựa ứa ra tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt rồi dần dần bầm lại đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Tuy vậy, bất chấp mọi sự tàn phá huỷ diệt của chiến tranh, cây xà nu vẫn vươn lên với một sức sống mãnh liệt “cạnh cây mới ngã gục đã có bốn, năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Tư thế vươn lên mạnh mẽ ấy của cây xà nu như để thách thức với bom đạn của chiến tranh “đố chúng nó giết được cây xà nu đất ta”. Sức sống mãnh liệt đã giúp những cánh rừng xà nu vươn lên trong một màu xanh, hiện lên hiên ngang, kiêu dũng như một tráng sĩ “cứ thế hai ba năm sau, rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho dân làng Xô man”.

Bằng nghệ thuật so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, Nguyễn Trung Thành đã dựng lên thật thành công và rõ nét, ấn tượng về hình tượng cây xà nu. Không dừng lại ở đó, Nguyễn Trung Thành còn đặt hình tượng cây xà nu vào trong quan hệ đối chiếu sóng đôi với con người mảnh đất Tây Nguyên. Nếu cây xà nu là một loại cây ham ánh sáng và khí trời, thì người dân Tây Nguyên yêu tự do, tin vào Đảng, đi theo bước chân cách mạng như muôn cây vẫn hướng vào ánh sáng mặt trời. Nếu cây xà nu bị tàn phá, huỷ diệt bởi đạn bom, khói lửa thì những người dân Tây Nguyên phải chịu bao đau thương mất mát do chính kẻ thù gây ra. Bao nhiêu người bị giặc giết chết như những cây xà nu bị chặt đứt ngang nửa thân mình, bao nhiêu người còn sống mà phải mang trong mình bao nỗi thương đau. Bằng cách miêu tả hình ảnh cây và người trong quan hệ sóng đôi như thế, Nguyễn Trung Thành đã khắc sâu tội ác dã man của kẻ thù để qua đó tác giả giúp ta hình dung rõ hơn những thảm cảnh dân ta phải chịu do bọn giặc gây ra.

Cũng giống như những cánh rừng quê hương, như những con người Việt Nam vẫn ý thức được rằng:

“Gươm nào chia được dòng Bến Hải

Lửa nào thiêu được dãy Trường Sơn

Loading...

Căm hờn lại giục căm hờn

Máu kêu trả máu đầu van trả đầu” 

Các thế hệ nhân dân Tây Nguyên đã thay nhau tiếp nối đứng lên. Ánh sáng của niềm tin “Đảng còn thì núi nước này còn” đã soi đường chỉ lối cho những bước chân đến với cách mạng. Thế hệ này ngã xuống, thế hệ sau tiếp nối đứng lên; anh Sút bà Nhan bị giặc giết, đi thay họ tiếp tế nuôi quân đã có T'Nú và Mai. Cứ như thế, các thế hệ người Tây Nguyên đã thay nhau giữ vững ngọn lửa truyền thống, thay nhau giữ vững ý chí đánh giặc kiên cường, để giữ làng, giữ nước của dân làng Xô man nói riêng và của người Tây Nguyên nói chung.

Dưới ngòi bút miêu tả của Nguyễn Trung Thành, cây xà nu hiện lên sừng sững, đồng hành với những bước đi, cuộc sống của dân làng Xô man. Gắn bó với cánh rừng anh dũng, kiêu hùng, những người dân Tây Nguyên như được tiếp thêm sức mạnh để đứng lên chiến đấu. Và gắn bó với con người Tây Nguyên ân tình, thuỷ chung, trung dũng như thế. Cây xà nu cũng luôn luôn sánh bước cùng họ để họ có cuộc sống bình yên hơn; để “hầu hết đạn đại bác của đồn giặc đều rơi vào những ngọn đồi xà nu, cạnh con nước lớn” chứ không nhằm vào những người dân vô tội lầm than. 

Cây xà nu là hình tượng mang đậm chất lý tưởng, tiêu biểu cho phẩm chất, số phận của người dân Tây Nguyên. Hình tượng cây xà nu trong tác phẩm mang đậm chất sử thi, tính hào hùng, nó làm rõ chủ đề tư tưởng của truyện ngắn “Rừng xà nu”. Để xây dựng một hình tượng xà nu như thế, Nguyễn Trung Thành đã sử dụng những câu văn miêu tả, những từ ngữ, hình ảnh chọn lọc đặc sắc, cùng nghệ thuật so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, giọng văn miêu tả trong tác phẩm rất linh hoạt.

Có đọc “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành ta mới cảm nhận hết vẻ đẹp hình tượng cây xà nu. Hình tượng này đã góp phần tạo nên một “Rừng xà nu” trọn vẹn, mang đậm giá trị văn học. Nguyễn Trung Thành đã góp phần làm phong phú thêm cho nền văn học dân tộc. 

Phân tích hình tượng cây Xà nu trong truyện ngắn Rừng Xà nu của Nguyễn Trung Thành – Bài làm 2

“Rừng xà nu” là truyện ngắn của Nguyễn Trung Thành , tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn của văn học Việt Nam thời kì 1945-1975. Chủ đề của tác phẩm được bộc lộ sâu sắc do ý nghĩa khái quát và giàu chất lãng mạn, tạo hình của hình tượng cây xà nu.

Đi suốt chiều dài tác phẩm, xà nu là hình tượng bao trùm là mạch sống mạch hồn của tác phẩm. Khi cầm bút sáng tác thiên truyện này, hình ảnh đầu tiên hiện về trong tâm trí ông là cây xà nu, những cánh rừng xà nu. Hình tượng thiên nhiên ấy đã trở thành chủ âm của tác phẩm, nó chiếm giữ những vị trí quan trọng nhất của truyện ngắn : nhan đề, mở đầu và kết thúc. Hình ảnh cây xà nu còn trở đi trở lại nhiều lần tạo nên không gian đặc trưng của núi rừng Tây Nguyên.

Cây xà nu gắn bó mật thiết với cuộc sống con người Tây Nguyên. Cây xà nu hiện lên trong tác phẩm là một loài cây đặc thù, tiêu biểu cho vùng đất Tây Nguyên. Qua hình tượng cây xà nu, nhà văn đã tạo dựng được hình ảnh hung vĩ và hoang dã mang đậm màu sắc Tây Nguyên cho câu truyện.    Cây xà nu luôn gắn bó gần gũi với đời sống của dân làng Xô man, có mặt trong đời sống hàng ngày của dân làng. Lửa xà nu cháy dần dật trong mỗi bếp, trong đống lửa của nhà ưng tập hợp dân làng, khói xà nu xông bảng nứa để Tnu và Mai học chữ. Khi Tnu trở về đơn vị, cụ Mết và Dít đưa anh ra đến rừng xà nu cạnh con nước lớn.     Cây xà nu còn tham gia vào những sự kiện trọng đại của dân làng: ngọn đuốc xà nu dẫn đường cho cụ Mết và dân làng vào rừng lấy giáo, mác, dụ, rựa đã giấu kĩ chuẩn bị nổi dậy. Mười ngón tay Tnu bị đốt vì giẻ tẩm nhựa xà nu, và chính vì cảnh tượng đau thương ấy dân làng đã nổi dậy để “ đống lửa xà nu lớn giữa nhà” soi rõ “xác mười tên lính giặc nằm ngổn ngang”. Cây xà nu cũng đã thấm sâu vào nếp cảm, nếp nghĩ của người Tây Nguyên. Tnu cảm nhận về cụ Mết “ ngực cụ căng như cây xà nu lớn”. Trong câu truyên vê Tnu, cụ Mết cũng nói về cây xà nu với tất cả tình cảm yêu thương, gần gũi xen lẫn tự hào: “không có gì mạnh bằng cây xà nu nước ta”, cây xà nu đã trở thành máu thịt trong đời sống vật chất và tinh thần của con người Tây Nguyên.

Cây xà nu tượng trưng cho số phận và phẩm chất con người Tây Nguyên trong chiến tranh cách mạng. Ta có thể thấy ý đồ nghệ thuật này khi tác giả miêu tả song hành hai hình tượng cây xà nu và những con người Tây Nguyên    . Thứ nhất, thương tích của rừng xà nu do đại bác của giặc gây ra tượng trưng cho những mất mát đau thương vô bờ mà người dân Tây Nguyên phải chịu đựng. Nếu rừng xà nu hàng vạn cây không cây nào không bị thương thì con người Tây Nguyên cũng vậy. Những cây xà nu non bị đại bác chặt đứt làm đôi thì tượng trưng cho những đứa con của Tnu và Mai. Còn những cây xà nu trưởng thành đại bác không giết nổi chúng thì cũng giống như Tnu và Dít, những con người trưởng thành từ những đau thương mất mát của chiến tranh.

Thứ hai, cây xà nu có đặc tính ham ánh sáng, đặc tính ấy tượng trưng cho niềm khát khao tự do của người dân Tây Nguyên. Nguyễn Trung Thành viết “ít có loài cây nào ham ánh sáng mặt trời đến thế…” Con người Tây Nguyên cũng vậy luôn khao khát tự do, mặc dù bon giặc đã giết bà Nhan, anh Xút vầ cả anh cán bộ Quyết nhưng Tnu và Mai vẫn kiên trì nuôi giấu cán bộ. Thứ ba, khả năng sinh sôi mãnh liệt của cây xà nu và sự rộng lớn của rừng xà nu giúp ta gợi liên tưởng dến sự tiếp nối của nhiều thế hệ người Tây Nguyên. Nguyễn Trung Thành viết “Trong rừng ít có loại cây nào sinh sôi nảy nở khỏe như vậy , cạnh một cây xà nu mới ngã đã có bốn, năm cây con mọc lên xanh rờn, hình nhọn mũi tên  lao thẳng lên bầu trời. Làng Xô man cũng có hững thế hệ tiếp nối như vậy: cụ Mết là cây xà nu lớn. Tnu, Mai và Dít là những cây xà nu trưởng thành và bé Heng là cây xà nu con rắn rỏi. Thứ Tư, sự tồn tại của rừng xà nu qua những hành động hủy diệt của kẻ thù tượng trưng cho sức sống bất diệt và khả năng vươn lên mạnh mẽ của con người Tây Nguyên trong chiến đấu.

Những cây xà nu trưởng thành nhanh chóng liền vết thương, vượt lên cao hơn đầu người thay thế cho những cây xà nu đã ngã. Vì thế bon hủy diệt không thể nào hủy diệt được rừng xà nu. Người Tây Nguyên cũng vậy, các thế hệ thay nhau che chắn bảo vệ cho cách mạng.   

Hình tượng rừng xà nu có quan hệ mật thiết với hình tượng nhân vật Tnu. Hai hình tượng này không tách rời nhau mà gắn bó khăng khít với nhau. Rừng xà nu sẽ không thể trải mãi tới chân trời trong màu xanh bất diệt khi con người chưa thấm thía bài học “chúng nó đã càm súng mình phải cầm giáo”.

Tác giả đã kết hợp miêu tả bao quát lẫn cụ thể, phối hợp cảm nhận của nhiều giác quan khi miêu tả cây xà nu tạo nên hình ảnh cây xà nu đầy sức lực, tràn trề sưc sống. Tác giả luôn miêu tả hình tượng cây xà nu với con người, các hình thức nhân hóa, ẩn dụ, tượng trưng đều được vận dụng nhằm thể hiện sống động vẻ hung vĩ của thiên nhiên và gợi ra những lien tưởng về con người. Nhờ thế những đoạn văn miêu tả rừng xà nu giống như một bài thơ trữ tình với giọng văn đầy biểu cảm.

Hình tượng cây xà nu là hình tượng xuyên suốt suốt tác phẩm tượng trưng cho vẻ đẹp hào hung đầy sức sống của thiên nhiên và con người Tây Nguyên. Qua đó chất thơ và chất sử thi hòa làm một thể hiện rõ phong cách văn xuôi Nguyễn Trung Thành: vừa say mê, vừa trầm tư, vừa giỏi tạo hình vừa giàu tính khái quát.   

Phân tích hình tượng cây Xà nu trong truyện ngắn Rừng Xà nu của Nguyễn Trung Thành – Bài làm 3

Tây Nguyên – mảnh đất hùng vĩ và thơ mộng, với những con người nồng hậu yêu thương mà kiên cường bất khuất, từ lâu đã là nguồn cảm hứng cho biết bao văn nhân nghệ sĩ. Mỗi người đều tìm thấy ở mảnh đất này một biểu tượng đẹp cho tâm hồn cất cánh, ngòi bút thăng hoa. Ngọc Anh có Bóng cây Kơnia như nỗi lòng thổn thức thiết tha của tình yêu thủy chung son sắt, Thu Bồn có Bài ca chim Chơ-rao, ngân vang khúc hát trong trẻo nồng đượm tình người chiến thắng… Còn Nguyễn Trung Thành lại đem đến cho ta hình tượng những Rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời như sức sống bền và bất diệt của nhân dân Tây Nguyên trong công cuộc chống Mĩ cứu nước

Đọc Rừng xà nu, không chỉ những nhân vật như cụ Mết, Tnú, Dít, Mai tạo nên ấn tượng sâu sắc trong chúng ta, mà còn là cây xà nu – một hình đặc sắc bao trùm toàn bộ thiên truyện ngắn này. Chính hình tượng cây xà nu tạo nên vẻ đẹp hùng tráng, chất sử thi lãng mạng cho câu chuyện về làng Xô Man bất khuất, kiên cường. Đó là hình tượng hàm chứa nhiều ý nghĩa tượng trưng. Qua hình tượng này, người đọc có thể thấy rõ sức sống kiên cường, sức sống mãnh liệt của con người Tây Nguyên nói riêng, của con người Việt nói chung trong nhừng ngày đánh Mĩ. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Trung Thành lại miêu tả thật cụ thể, thật chi tiết rừng xà nu bằng một thứ ngôn ngữ giàu chất thơ, bằng những “lời có cánh” với một cảm xúc say mê mãnh liệt như đã thấy trong tác phẩm. Gần hai mươi lần nhà văn đã viết về xà nu, dường như cây xà nu tham dự vào tất cả những sinh hoạt, những tâm tình, những buồn vui của con người Tây Nguyên trong cuộc chiến đấu anh dũng của họ.

Cả một câu chuyện dài, đau thương, bất khuất như một bản anh hùng ca về cuộc đời Tnú, cuộc đời dân làng Xô Man được kể trên nền chính của hình tượng cây xà nu. Cây xà nu, rừng xà nu như những con người, những tâm hồn, vừa là nhân chứng, vừa tham gia vào bản anh hùng ca, cũng vừa chịu đựng mọi gian nan, vất vả, đau thương do tội ác của kẻ thù, nhưng bất chấp tất cả, rừng xà nu vẫn vươn mình cường tráng, vẫn tồn tại bất chấp mọi đau thương: nó tượng trưng cho khát vọng tự do, khát vọng giai phóng, cho phẩm chất anh hùng và sức sống mãnh liệt của dân làng Xô Man, của nhân dân Tây Nguvên trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.

Hình tượng cây xà nu hiện lên trong tác phẩm đầy chất thơ hùng tráng. Mở đầu và kết thúc câu chuyện là hình ảnh “hàng vạn cây xà nu” “sinh sôi nẩy nở”,“rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng”… “đến hết tầm mắt cùng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời". Rừng xà nu là biểu tượng cho con người. Cây được miêu tả như con người trong sự ứng chiếu với con người, gợi ra những biểu tượng về đời sống, số phận và phẩm cách của con người – các thế hệ dân làng Xô Man đánh Mĩ.

Cây xà nu ham ánh sáng và khí trời, “nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng”, cũng như Tnú, như dân làng Xô Man yêu tự do. Rừng xà nu cũng như làng Xô Man, chịu nhiều đau thương bởi sự tàn ác của giặc: “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đúng ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận băo. Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Nhưng xà nu có sức sống thật mãnh liệt, không gì tàn phá nổi: “Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn cây xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng trên bầu trời”, cũng như các thế hệ làng Xô Man, lớp này tiếp lớp khác đứng lên. Anh Quyết hi sinh thì có Tnú, Mai: Mai ngã xuống giữa tuổi tràn đầy sức sống, thì Dít lớn lên rất nhanh đến không ngờ, trở thành bí thư chi bộ, chính trị viên xã đội: rồi những bé Heng, thế hệ tiếp theo của Dít cũng đang lớn lên, tiếp tục cuộc chiến đấu. Đồng thời, ngược lại, nhiều chỗ miêu tả con người, nhà văn đã so sánh với cây xà nu. Cụ Mết thì “ngực căng như một cây xà nu lớn”, vết thương trên lưng Tnú do giặc tra tấn thì “ứa ra một giọt máu đậm, từ sáng đến chiều thì đặc quyện lại, tím thâm như nhựa xà nu”. Thủ pháp ấy trong miêu tả tạo nên một sự hòa nhập, tương ứng giữa con người và thiên nhiên trong một chất thơ hào hùng, tráng lệ. Nhà văn đã ví cụ Mết “như một cây xà nu lớn” bởi cụ là người hơn ai hết hiểu sự gắn bó của cây xà nu và mảnh đất đang sống, hiểu được sức mạnh tiềm tàng bất khuất của rừng cây cũng như dân làng Xô Man: “Không có cây gì mạnh bầng cây xà nu đất ta. Cây mẹ ngã, cây con mọc lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này!…”.

Cậy xà nu gắn bó với con người và cuộc sống dân làng. Xà nu không chỉ có mặt trong đoạn mở đầu và kết thúc, nó còn hiện diện trong suốt câu chuyện về Tnú và làng Xô Man của anh. Xà nu có mặt trong đời sống hằng ngày như đã tự ngàn đời nay của dân làng: Ngọn lửa xà nu trong mối bếp; đống lửa ở nhà rông tập hợp cả dân làng, ngọn đuốc xà nu cháy sáng soi những đoạn rừng đêm; khói xà nu hun tấm bảng đen cho anh Quyết đạt Tnú và Mai học chữ..; xà nu cũng tham dự vào những sự kiện quan trọng của cuộc sống chống Mĩ: ngọn đuốc xà nu cháy sáng trong tay cụ Mết và tất cả dân làng vào rừng lấy dao, mác, dụ, rựa đã giấu kĩ, chuẩn bị cho cuộc nổi dậy, và đêm đêm làng Xô Man thức, dưới ánh đuốc xà nu, mài vù khí; giặc đốt hai bàn tay Tnú bằng giẻ tẩm nhựa xà nu…; cũng ngọn lửa từ các đuốc xà nu soi sáng rực cái đêm cả làng nổi dậy, soi rõ xác mười tên lính giặc bị giết ngổn ngang quanh đống lửa lớn giữa sân làng…

Cây xà nu còn là người chứng kiến sự giác ngộ, sự hi sinh thầm lặng, lòng dũng cảm, ý chí quật cường của dân làng Xô Man: “Đứng trên đồi xà nu gần con nước lớn. Suốt đêm nghe cả rừng Xô Man ào ào rung động. Và lửa cháy khắp rừng.”. Ánh lửa xà nu soi sáng lời căn dặn của anh Quyết: “Người còn sống phải chuyển dáo, mác, dụ. rựa, tên, ná… Sẽ có ngày dùng tới”. Lửa xà nu thử thách ý chí cũng như lòng can đảm của Tnú: “không có gì đượm bằng nhựa xà nu.. Mười đầu ngón tay đã thành mười ngọn đuốc… Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi.. ”. Căm thù trong anh cháy giần giật như nhựa xà nu bén nhạy để “bàn tay hận thù” thành “bàn tay trả thù” bóp chết tên ác ôn dưới ngách hầm.

Câu chuyện cụ Mết kể phảng phất phong vị anh hùng ca. Đêm kể chuyện dưới ánh lửa xà nu chắc cũng giống như đêm già làng thường kể về các bài: anh hùng ca truyền thông của Tây Nguyên. Giọng điệu sử thi của Rừng xà nu bắt nguồn từ đó. Cây xà nu gắn với quá khứ, hiện tại anh hùng, gắn bó vơ mọi sinh hoạt, phong tục và đời sống văn hóa của dân tộc Tây Nguyên, khiến cho câu chuyện làng Xô Man đánh Mĩ lung linh sắc màu huyền thoại như Đam San, Xinh Nhã thuở nào…

Có thể nói hình tượng xà nu là mô típ chủ đạo của tác phẩm. Xà nu trở thành biếu tượng cho cuộc sống và phẩm chất của dân làng Xô Man. Đó là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Trung Thành. Nhà văn đã lựa chọn hình ảnh cây xà nu và đem lại cho nó những ý nghĩa mới, những vẻ đẹp mới để dựng lên bức tranh sử thi chống Mĩ của những con người kiên cường bất khuất nơi núi rừng hùng vĩ Tây Nguyên.

Phân tích hình tượng cây Xà nu trong truyện ngắn Rừng Xà nu của Nguyễn Trung Thành – Bài làm 4

Nguyễn Trung Thành là bút danh của Nguyên Ngọc trong thời kì vào hoạt động ở chiến trường miền Nam.Ông thuộc thế hệ những nhà văn trửng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ.Những sáng tác của Nguyên Ngọc thường đậm đà tính chất sử thi,đề cập đến những vấn đề trọng đại của dân tộc, của đất nước, qua những nhân vật anh hùng.

Nguyên Ngọc có vốn sống khá phong phú và sự gắn bó sâu sắc với chiến trường Tây Nguyên, với những dân tộc ít người .Mảnh đất Tây Nguyên và con người Tây Nguyên đã xuất hiên trong những sáng tác của Nguyên Ngọc với một tinh thần quật cường ,thiết tha với cách mạng ,yêu quý tự do,chân thành ,đôn hậu…Cùng với tác phẩm Đát nước đứng lên,Rừng xà nu có thể coi như một bản anh hùng ca của nhân dân Tây Nguyên anh hùng chống kẻ thù xâm lược ,mà dân làng XôMan trong truyện là những con người tiêu biểu.Đại diện cho dân làng này phải kể đến những nhân vật thiếu niên như Heng, như Tnú, như Dít và phụ lão như già Mết…Bên cạnh đó còn có một nhân vật hết sức quan trọng là cây xà nu.

Cây xà nu là hình tượng nổi bật xuyên suốt truyện ngắn này. Nó được tác giả dụng công mô tả ,và trên thực tế, hình tượng cây xà nu đã mang lại hiệu quả đáng kể. Đọc truyên Rừng Xà Nu ,gấp sách lại ,không mấy ai quên được hình tượng cây xà nu.

Trong bài viết Về một truyện ngắn – Rừng xà nu in trong tác phẩm văn học 1930-1975,chính tác giả đã tâm sự :ngay từ năm 1962, trên đường cùng một số văn nghệ sĩ từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam, đến miền Tây tỉnh Thùa Thiên giáp Lào , Nguyên Ngọc được tấn mắt trông thấy những rừng xà nu bát ngát “xanh tít tận chân trời” .Đấy là những rừng cây “hùng vĩ và cao thượng ,man dại và trong sạch , mỗi cây cao vút ,vạm vỡ, ứ nhựa, tán lá vùa thanh nhã ,vừa rắn rỏi”.Những rừng cây này đã gây ấn tượng mạnh mẽ khơi nguồn cảm hứng cho Nguyên Ngọc để 3 năm sau (1965) nó trở thành hình tượng chính trong một truyện ngắn khá tiêu biểu của văn học thời chống Mĩ- truyện ngắn rừng xà nu.

Trong truyện ngắn này , cây xà nu được nhắc đến hàng chục lần.Mở đầu và kết thúc truyện , nhà văn đã dành một đoạn khá dài để nói đến rừng xà nu .Đây là những đoan văn vừa làm nền cho toàn bộ diễn biến câu chuyện , vừa nhằm gây cho người đọc ấn tượng sâu sắc về cây xà nu.

Trước hết đây là loại cây chứng kến sự ác liệt của chiến tranh hủy diệt. Cây xà nu bỗng nhiên trở thành đối tượng hủy diệt của bom đạn kẻ thù. Mở đầu tác phẩm ,nhà văn vẽ ra trước mắt người đọc bức tranh đau thương”cả rừng xà nu hàng vạn cây không cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình , đổ ào như một cơn bão”. Không dừng ở đấy , tác giả mô tả kĩ hơn” ở chỗ vết thương nhựa ứa ra , tràn trề thơm ngào ngạt , long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dân bầm lại, đen và đặc quện thành cục máu lớn.”

Nhưng mặc cho bom đạn ác liệt của kẻ thù hủy diệt , rừng xà nu vẫn tồn tại , cây xà nu vẫn vươn lên ,bằng một sức sống thật mãnh liệt .Có mất mát, có hi sinh, có những cây bị chết đi , nhưng rừng xà nu thì vẫn còn mãi.Cây xà nu đâu còn là một vật vô tri vô giác?Cây xà nu đã trở thành người dũng sĩ rực rỡ tráng kiệt có sức sống mãnh liệt ,bất chấp sự tàn bạo của kẻ thù:”Cạnh một cây xà nu mới ngã gục ,đã có bốn năm cây con mọc lên, ngon xanh rờn hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời.Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trới đến thế.Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh sáng, thứ ánh sáng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp(…)Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt làm đôi…cứ thế hai ba năm nay ,rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình, che chở cho làng..”

Để kết thúc đoạn văn mở đầu tả rừng xa nu ,tác giả viết:”Đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa , đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp chân trời”.Đây cũng là câu văn kết thúc toàn bộ tác phẩm, chỉ đổi một chữ “đồi” ở đoạn đầu thành chữ “rừng” ở phần cuối cùng.Cách viết này rõ ràng nhằm gây ấn tượng mạnh mẽ ở người đọc về hình tượng cây xà nu kiên cường bất khuất.

Không chỉ ở đầu và cuối truyện ,cây xà nu liên tục xuất hiện trong suốt câu chuyện, có mặt trong mọi sinh hoạt của các nhân vật chính , nói rộng ra nó gắn bó mật thiết với cuộc sống của mọi người dân ở làng xooman này.

Sau ba năm xa làng, đi bộ đội giải phóng, nay ,T nú có dip trở về thăm làng, được bé heng dẫn đường.Qua chú bé này,Tnú biết Dít-em gái của Mai ,nay đã trở thành bí thư chi bộ xã Một trong những kỉ niệm anh nhớ đến đầu tiên là lúc Tnú cầm lấy cây xà nu”soi cho Dít gằn gạo”. Về đến làng , Tnú nhìn thấy “một lũ trẻ lau nhau,đứa nào ,đứa nấy ấy mặt mày lem luốc khói xà nu”.Và dưới mắt anh,cụ Mết quắc thước bây giờ râu đã dài tới ngực đen bóng, mắt vẫn sáng…Nhìn thấy bộ ngực nở nang của ông cụ ở trần, Tnú ví nó như “một cây xà nu lớn”. Trong bữa cơm thân mật ở nhà cụ Mết ,mọi người chuyện trò vui vẻ.Cụ Mết không quên nhắc tới cây xà nu đất ta với một sự thách thức đối với kẻ thù,và một niềm tự hào về sự bất diệt của loại cây này:’Không có gì mạnh bằng cây xà nu đất ta .cây mẹ ngã cây con mọc lên.Đố nó giết hết rừng xà nu này!”Tnú còn nhớ lại cái ngày đầu mình học chữ với Mai do anh cán bộ Quyết dạy”ba người đập nứa làm những tấm bảng to bằng ba bàn tay.Cây xà nu cung cấp cho họ một thứ vật liệu vô giá:’Ba anh em đốt khói xà nu xông bảng nứa đen kịt rồi lấy nhựa hương -tờ-ngheo phất lên một lớp dày..”Nhờ những tấm bảng ấy ,Tnú và Mai đã học được chữ.Chưa hết ,cây xà nu còn có mặt trong những phút dữ dội nhất,đau đớn nhất của cuộc đời Tnú:anh bị kẻ thù hành hạ dã man.Chúng dùng ‘giẻ đã tẩm dầu xà nu ‘,’quấn giẻ vào mười đầu ngón tay của Tnú’ rồi đốt.’Không có gì đượm bằng nhựa xà nu.Lửa bắt rất nhanh.Mười ngón tay đã trở thành mười ngọn đuốc.’Thế rồi ,dân làng vùng lên giết bọn giặc dã man”Lửa đã tăt trên mười đầu ngón tay Tnú.Nhưng đống lửa xà nu lớn giữa nhà vẫn đổ.Xác mười tên lính giặc ngổn ngang quanh đống lửa đỏ”.Như vậy cây xà nu trở thành nhân chứng cho cuộc chiến đấu,chiens thắng đầu tiên của dân làng XoMan đối với kẻ thù hung bạo, họ buộc phải lấy bạo lực cách mạng để tiêu diệt bạo lực phản cách mạng bằng một khí thế vũ bão:

“Tiếng chiêng nổi lên Đứng trên đồi xà nu gần con nước lớn suốt đêm nghe cả rừng XôMan ào ào rung động”

Như vậy rõ ràng cây xà nu là một hình tượng chủ đạo xuyên suốt tác phẩm .Cây xà nu chính là tượng trưng cho cuộc sống trong lao động và trong chiến đấu ,cho phẩm giá cao đẹp của người dân XôMan.Nó gắn bó máu thit với mỗi một thành viên của làng này , đi vào mọi sinh hoạt , mọi suy nghĩ của họ . Nó vừa gần gũi vừa thiêng liêng,Từ ngàn xưa đã trở thành niềm tự hào,thành chuẩn mực của người làng XooMan.

Từ những nét đó giúp chúng ta hiểu thêm vì sao Nguyên Ngọc lại đặt tên truyện ngắn này là Rừng xà nu. Điều đáng lưu ý là cây xà nu ở đây miêu tả như một ẩn dụ,gợi lên những liên tưởng về cuộc sống thuần khiết trong sáng, sức sống dồi dào mãnh liệt ,phẩm cách kiên cường của người dân xô man .Cũng có thể nói ,việc tập trung miêu tả cây xà nu ,rừng xà nu , nhưng thực chất Nguyên Ngọc đã khắc họa được ngững nét đặc điểm hết sức cao quý của người Tây Nguyên . Cùng với những nhân vật như Tnú ,như Dít , như cụ già Mết, cây xà nu hoàn thiên chân dung của người dân xô man thủy chung ,bất khuất,căm ghét kẻ thù,gắn bó sâu nặng với cách mạng …Rừng xà nu bị đạn đại bác của quân thù tàn phá chịu bao đau thương mất mát có khác gì dân làng XôMan ,người bị tra tấn dã man người bị giết hại.Cây xà nu ham ánh sáng mặt trời có khác gì dân làng XôMan bộc trực ,thích tự do ,có sức chiến đấu mãnh liệt.

Rững xà nu đã trở thành một biểu tượng,một bản anh hùng ca bất diệt trong con người XôMan,trong Tây Nguyên và trong cả dân tộc Việt Nam.

Phân tích hình tượng cây Xà nu trong truyện ngắn Rừng Xà nu của Nguyễn Trung Thành – Bài làm 5

“Rừng xà nu” là một truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Trung Thành và của văn học thời chống Mĩ. Trong tác phẩm, với hình tượng cây xà nu, Nguyễn Trung Thành đã làm nổi rõ khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, một đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975. Khuynh hướng này đã chi phối sự sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn trong giai đoạn văn học này.

Đọc “Rừng xà nu” những nhân vật như cụ Mết, Tnú, Dít, Mai… tạo nên ấn tượng sâu sắc nơi độc giả. Nổi bật hình ảnh cây xà nu được lặp đi lặp lại gần hai mươi lần một hình tượng đặc sắc bao trùm toàn bộ thiên truyện ngắn này. Hình tượng ấy đã tạo nên vẻ đẹp hùng tráng, chất sử thi và lãng mạn cho câu chuyện về làng Xô-man bất khuất, kiên cường. Qua tác phẩm, cây xà nu, rừng xà nu đã được Nguyễn Trung Thành miêu tả thật cụ thể, thật chi tiết với ngôn ngữ giàu chất thơ, bằng những “lời văn có cánh” trong một cảm xúc thật say mê và mãnh liệt. Cây xà nu trong truyện xuất hiện rất nhiều lần và dường như rất quen thuộc với con người nơi núi rừng Tây Nguyên, nó tham dự vào tất cả những sinh hoạt, những tâm tình, những buồn vui của người dân nơi đây trong cuộc chiến đấu chống Mĩ thật anh dũng của họ.

Tác phẩm “Rừng xà nu” là một bản anh hùng ca về cuộc đời anh dũng, đau thương, bất khuất của Tnú cũng như của tất cả dân làng Xô-man. Câu chuyện ấy được kể trên nền tảng chính của hình tượng cây xà nu – một hình tượng hàm chứa rất nhiều ý nghĩa tượng trưng và khái quát. Những cây xà nu, rừng xà nu như những con người, những tâm hồn sống, vừa là nhân chứng, vừa tham gia bản anh hùng ca, cũng vừa chịu đựng mọi vất vả, đau thương dưới tầm đạn kẻ thù. Nhưng bất chấp tất cả, rừng xà nu vẫn tràn đầy sức sống, vẫn vươn mình lên cường tráng vượt lên mọi thương đau. Cây xà nu là một hình ảnh mang tính chất tượng trưng cho khát vọng tự do, khát vọng giải phóng, cho phẩm chất anh hùng và sức sống tiềm tàng mãnh liệt của dân làng Xô-man.

Mở đầu câu chuyện là hình ảnh “cả rừng xà nu hàng vạn cây” và kết thúc vẫn là “những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời”. Hình ảnh ấy như một nét nhạc trầm hùng, một bản đàn dạo, là cái “phông” cho cả một câu chuyện khiến thiên truyện càng mang đậm tính sử thi và lãng mạn hơn. Rừng cây xà nu được xem như là biểu tượng cho con người Xô-man. Với hình ảnh nhân hóa, Nguyễn Trung Thành đã miêu tả cây xà nu như những con người, chúng cũng có “vết thương”, biết “ham ánh sáng” và “ưỡn tấm ngực lớn ra che chở cho làng”. Cây xà nu còn là một hình ảnh so sánh với con người “ngực căng bằng cây xà nu”. Rừng xà nu năm tháng đứng dưới tầm đại bác kẻ thù chịu đựng biết bao tàn phá, cũng như những đau thương mà dân làng phải gánh chịu trước ách kìm kẹp của giặc. “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương”. “Cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình nhựa ứa ra, tràn trề”… rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quện thành từng cục máu lớn”. Hình ảnh đó gợi lên lòng căm thù và kết tụ một ý chí phản kháng.

Nhưng hơn hết vẫn là sức sống mãnh liệt đầy sức trẻ của rừng xà nu bạt ngàn. “Cạnh một cây xà nu mới ngã gục đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”, “có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắc như những mũi lê” “nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh sáng”. Thế mới biết sức trẻ của cây xà nu mãnh liệt đến dường nào! Sức trẻ ấy còn mang tính tượng trưng cho thế hệ trẻ của làng Xô-man. Đó là những Mai, Dít, Tnú, Heng, những con người luôn gắn bó với cách mạng, bất khuất từ tuổi thơ, lớn lên trong lửa đạn, trưởng thành trong đau thương và sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì tự do của dân tộc.

Bên cạnh đó, sức sống bất khuất kiên cường của cây xà nu còn được tạo bởi hàng vạn cây ở những đồi xà nu nối tiếp nhau tới chân trời ở tấm ngực lớn của rừng ưỡn ra che chở cho làng. Đó là những cây xà nu thật vững chắc, xanh tốt đã vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum suê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng chúng vượt lên rất nhanh thay thế những cây đã ngã”, một cây ngã xuống tức thì bốn năm cây con lại mọc lên cứ thế trở thành cả một rừng cây xà nu nối tiếp đến chân trời. Những cây xà nu, rừng xà nu ấy là hình ảnh của dân làng Xô-man kiên cường chống giặc, bất chấp mọi hi sinh, một lòng đi theo Đảng, đi theo kháng chiến hết thế hệ này đến thế hệ khác. Đó là những cụ Mết, anh Xút, Tnú, Mai, Dít, anh Brơi… mà tiêu biểu là hình ảnh cụ Mết. Nhà văn đã ví cụ “như một cây xà nu lớn”. Hơn ai hết, cụ là người hiểu rất rõ sự gắn bó của cây xà nu và mảnh đất đang sống, hiểu được sức mạnh tiềm tàng bất khuất của rừng xà nu cũng như của dân làng Xô-man. Chính cụ Mết đã nói với Tnú “không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta”, “cây mẹ chết cây con lại mọc lên”.

Cây xà nu còn là người chứng kiến sự giác ngộ, sự hi sinh thầm lặng, lòng dũng cảm và ý chí quật khởi của dân làng Xô-man. “Đứng trên đồi cây xà nu gần con nước lớn, cả vùng Xô-man ào ào rung động. Và lửa cháy khắp rừng”. Ánh lửa xà nu soi sáng lời căn dặn của anh Quyết: “Người còn sống phải chuẩn bị dao, mác, vụ, rựa, tên, ná… Sẽ có ngày dùng tới”. Lửa xà nu thử thách ý chí cũng như lòng can đảm của Tnú: “Không có gì đượm bằng nhựa cây xà nu… Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc… máu anh mặn chát ở đầu lưỡi…”

Giọng điệu sử thi của “Rừng xà nu” bắt đầu từ câu chuyện kể của cụ Mết dưới ánh lửa xà nu, một câu chuyện phảng phất phong vị anh hùng ca. Và cây xà nu không chỉ gắn với quá khứ, hiện tại anh hùng mà còn gắn bó với mọi sinh hoạt, phong tục và đời sống văn hóa của người Xô-man, của các dân tộc Tây Nguyên.

Hình tượng cây xà nu thật sự là một sáng tạo nghệ thuật đáng kể của Nguyễn Trung Thành. Nhà văn đã lựa chọn hình ảnh cây xà nu và đem lại cho nó những ý nghĩa mới những lớp ý nghĩa rất khác nhau qua cách viết vừa gợi vừa tả của tác giả. Qua hình tượng này người đọc không chỉ thấy rõ sức sống kiên cường, mãnh liệt của dân làng Xô-man, của con người Tây Nguyên nói riêng mà còn là của dân tộc Việt Nam nói chung trong những tháng năm chống Mĩ.

Phân tích hình tượng cây Xà nu trong truyện ngắn Rừng Xà nu của Nguyễn Trung Thành – Bài làm 6

Nguyễn Trung Thành tên thật là Nguyễn Văn Báu, sinh năm 1932, quê ở Quảng Nam – Đà Nẵng. Ở mỗi giai đoạn sáng tác khác nhau, ông lấy những bút danh khác nhau: Nguyễn Ngọc Tấn, Nguyên Ngọc, Nguyễn Trung Thành… Bạn đọc trong và ngoài nước biết đến tác giả từ tác phẩm nổi tiếng Đất nước đứng lên (với bút danh Nguyên Ngọc) phản ánh sinh động và chân thực cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ, anh dũng của các dân tộc Tây Nguyên. Có thể nói: Mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ với những tập tục văn hóa lâu đời, với truyền thống đấu tranh bất khuất đã trở thành nguồn cảm hứng dạt dào của nhà văn. Vì thế mà những tác phẩm của nhà văn viết về đề tài đất nước và con người Tây Nguyên đều là những tác phẩm xuất sắc.

Rừng xà nu được tác giả sáng tác vào khoảng giữa năm 1965, khi cuộc đối đầu giữa nhân dân miền Nam với bè lũ Mĩ – ngụy đã bước vào giai đoạn gay go, ác liệt. Với giá trị nội dung và nghệ thuật rất cao, truyện ngắn này được đánh giá là một điểm son trong văn học cách mạng miền Nam. Truyện phản ánh nỗi đau riêng ghê gớm của một con người và nỗi đau chung lớn lao của xóm làng, dân tộc, đã khiến Tnú và dân làng Xô Man vùng lên tiêu diệt giặc để tự cứu mình, góp phần giải phóng quê hương, đất nước. Qua đó, tác giả thể hiện ý chí bất khuất, tinh thần chiến đấu dũng cảm của đồng bào Tây Nguyên và con đường cách mạng tất yếu của dân tộc ta trong công cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

Cốt truyện của Rừng xà nu được tạo dựng trên hai câu chuyện đan cài chặt chẽ vào nhau : cuộc đời Tnú và cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man. Điều đáng chú ý là tác giả đã xây dựng thành công một số hình tượng nhân vật đại diện cho các thế hệ dân làng Xô Man nối tiếp nhau trong cuộc chiến đấu chống quân thù : từ cụ Mết đến Tnú, Mai, đến Dit, Heng… Thiên nhiên Tây Nguyên hùng vĩ kết tụ trong hình tượng rừng xà nú, cây xà nu với vẻ đẹp và sức sống tiêu biểu cho mảnh đất và con người nơi đây.

Chọn rừng xà nu làm bối cảnh cho câu chuyện, nhà văn đã tạo được không khí rất Tây Nguyên bởi giữa cây và người có những nét tương đồng kì lạ. Theo tác giả, xà nu là loại cây hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch… vừa thanh nhã vừa rắn rỏi… tưởng như đã sống tự ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau…

Đúng như vậy! Cây xà nu gắn bó mật thiết với cuộc sống vật chất và tinh thần của dân làng Xô Man. Khi đi vào tác phẩm, cây xà nu không những trở thành biểu tượng cuộc đời của họ mà còn là hình ảnh tượng trưng cho những phẩm chất tốt đẹp của đồng bào Tây Nguyên.

Mở đẩu tác phẩm, người đọc đã bị cuốn hút vào khung cảnh rừng xà nu ngày ngày bị bom đạn quân thù tàn phá dữ dội nhưng vẫn tràn đầy sức sống. Với sự quan sát tỉ mỉ, cảm nhận tinh tế và ngòi bút tài hoa, Nguyễn Trung Thành đã viết nên những câu văn đẹp lạ thường gây ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc:

Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc. Chúng nó bắn, đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy… Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn: Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão. Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn.

Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời. Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng. Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt làm đôi. Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết Nhưng cũng có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã… Cứ thế hai ba năm nay rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng…

Đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa, đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời.

Những câu văn dạt dào cảm xúc mến yêu, khâm phục như thế không chỉ tạo ra phong vị kì thú của Tây Nguyên, mà còn đem đến cho người đọc cảm giác ngất ngây như được chiêm ngưỡng tận mắt vẻ đẹp của thiên nhiên. Tác giả đã thể hiện tình yêu sâu sắc, say mê của mình đối với cây xà nu, rừng xà nu, loại cây tượng trưng cho con người Tây Nguyên bất khuất, kiên cường. Tình yêu chân thành ấy đã đem đến cho bức tranh phong cảnh một linh hồn sống động. Công phu của tác giả trong đoạn văn miêu tà rừng xà nu đã đem lại hiệu quả nghệ thuật đặc biệt. Rừng xà nu nổi bật lên thành hình khối, có màu sắc, hương vị và ánh sáng rất riêng, tạo nên những liên tưởng bất ngờ, thú vị. Đây là một phần sự sống Tây Nguyên, đồng thời cũng tượng trưng cho các thế hệ đồng bào Tây Nguyên kiên cường bất khuất đã bao đời tồn tại, sinh sôi trên mảnh đất này.

Trong câu văn mở đầu truyện ngắn Rừng xà nu: Làng ở trong tầm đại bác, tác giả có chủ ý dựng lên một tình huống đối lập gay gắt: sự Sống đối mặt với cái chết, sự sinh tồn đang đứng trước mối de dọa của diệt vong. Vì thế, rừng xà nu vừa là hiện thân của Cái Đẹp, vừa là biểu tượng của sự sống trước những thử thách, đau thương. Rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Nỗi đau đớn bởi bom đạn Mĩ gây ra cho mỗi lứa xà nu một khác. Tác giả quan sát tỉ mỉ và miêu tả rất cụ thể với cảm xúc xót xa pha lẫn tự hào: Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão. Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn… Có những cây con vừa lớn ngang tâm ngực người lại bị đại bác chặt đứt làm đồi. Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được, cứ loét mài ra, năm mười hôm thì cây chết. Nhưng cũng có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ… vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng. Như vậy, hình ảnh rừng xà nu đã phản ánh đau thương mà đồng bào các dân tộc Tây Nguyên phải chịu đựng trong cuộc chiến đấu một mất một còn với kè thù xâm lược.

Tuy nhiên, khi tả rừng xà nu bị tàn phá dữ dội, cảm hứng của tác giả không phải là cảm hứng đau thương. Đạn đại bác của kẻ thù có thể tàn phá rừng xà nu nhưng không thể nào hủy diệt được sự sống. Sự sống luôn mạnh hơn cái chết : Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời. Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng… Cứ thế, các thế hệ xà nu giống như những điệp khúc xanh, ngân vang bất tận trong tâm hồn người đọc. Ngòi bút của Nguyễn Trung Thành tha thiết ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên và sự sống bất diệt. Đấy là điều chủ yếu làm nên chất nhân văn sâu đậm trong thiên truyện ngắn này.

Tác giả đã khai thác triệt để thế mạnh của phép tu từ nhân hóa để miêu tả rừng xà nu. Cây xà nu được nói đến như con người. Hình ảnh rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng mang ý nghĩa ẩn dụ về thiên nhiên Tây Nguyên như một người mẹ hiền che chở cho những con người dũng cảm, kiên cường chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước.

Rừng xà nu không chỉ là biểu tượng cho dân làng Xô Man bất khuất mà nhà văn còn đem đến cho nó một ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều. Cũng như trước đây, nhà văn đã từ cuộc chiến đấu cùa dân làng Kông Hoa chống Pháp để khái quát về sự đứng lên cùa cả đất nước. Rừng xà nu do đó vừa là biểu tượng cho phẩm chất kiên cường, anh dũng của đồng bào Tây Nguyên, đồng bào miền Nam, vừa là biểu tượng cho cả dân tộc Việt. Nam anh hùng trong các cuộc kháng chiến chống đế quốc, thực dân xâm lược.

Để biến rừng xà nu thành một hình tượng nghệ thuật mang tính điển hình, Nguyễn Trung Thành đã hai lần nhắc đến hình ảnh cây xà nu. Câu chuyện mở đầu bằng hình ảnh rừng xà nu và kết thúc cũng bằng hình ảnh rừng xà nu: Đứng ở đồi xà nu cạnh con nước lớn, nhìn đến hút tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời. Lối kết cấu vừa đóng vừa mở khiến cho người đọc có cảm tưởng rằng truyện ngắn Rừng xà nu là một chương trong bẳn anh hùng ca bất tận về vùng đất Tây Nguyên. Sức mạnh quật cường của con người không chỉ thể hiện ở dân làng Xô Man mà còn mở rộng ra đồng bào các dân tộc Tây Nguyên và cả dân tộc Việt Nam.

Điều đáng chú ý là nhà văn Nguyễn Trung Thành đã xây dựng rừng xà nu thành một hình tượng nghệ thuật song song với những hình tượng nhân vật điển hình.

Rừng xà nu quen thuộc đã thành biểu tượng của cuộc sống đau thương nhưng kiên cường và bất khuất. Từ biểu tượng cho thiên nhiên, rừng xà nu mở rộng thành biểu tượng của đời sống con người. Cây xà nu hiện diện trong đời sống hằng ngày đã bao đời của dân làng Xô Man: Ngọn lửa xà nu bập bùng cháy trong bếp mỗi nhà, trong đống lửa lớn giữa nhà ưng, nơi tập trung của dân làng; nhựa xà nu rừng rực cháy trên ngọn đuốc giữa đêm trường, khói xà nu quét đen tấm bảng cho anh Quyết dạy Tnú và Mai học chữ… Cây xà nu còn tham dự vào những chuyện trọng đại của làng: đuốc xà nu cháy sáng trên tay cụ Mết và dân làng trong đêm vào rừng lấy giáo mác chuẩn bị cho đồng khởi. Đêm đêm, dân làng mài vũ khí dưới ánh đuốc xà nu. Giặc đốt mười đầu ngón tay Tnú bằng giẻ tẩm dầu xà nu. Lửa xà nu soi rõ xác lũ lính chết ngổn ngang quanh đống lửa lớn giữa làng…

Đọc Rừng xà nu, người đọc liên tưởng đến sự gắn bó sóng đôi giữa các lứa xà nu và các thế hệ dân làng Xô Man. Giống như rừng xà nu, cây lớn vừa ngã xuống đã có cây con mọc lên thay thế. Anh Quyết hi sinh đã có Tnú thay anh. Chị Mai ngã xuống đã có Dít tiếp tục công việc của chị gái để lại. Khi Tnú bị giặc bắt và hành hạ dã man, cụ Mết đã kêu gọi tất cả thanh niên trong làng, mỗi người một cây rựa sáng loáng xông lên tấn công quân giặc… Sau khí Tnú vào quân Giải phóng được mấy năm thì cậu bé Heng đã lớn nhanh như thổi, thay anh làm liên lạc cho cán bộ cách mạng. Dân làng Xô Man như rừng xà nu, dưới mưa bom bão đạn của quân thù vẫn sống… không có gì mạnh bằng, cây mẹ ngã, cây con mọc lên, đố nó giết hết rừng xà nu này.

Sức sống của rừng xà nu là bất diệt, dòng nhựa quý báu của xà nu được truyền lại nguyên vẹn từ những cây xà nu cổ thụ đến những cây non mới mọc. Dòng máu Tây Nguyên bất khuất cũng được truyền lại trọn vẹn từ thế hệ này sang thế hệ khác. Điều thiêng liêng ấy một lần nữa khẳng định chân lí: Sức sống của thiên nhiên và con người Tây Nguyên là bất diệt. Khi dân làng Xô Man cầm vũ khí nhất tề đứng lên khởi nghĩa, thì những cánh rừng xà nu cũng như đang sôi sục trong cơn thịnh nộ rung chuyển đất trời: Suốt đêm nghe cả rừng Xô Man ào ào rung động. Và lửa cháy khắp rừng…

Nguyễn Trung Thành đã miêu tả thành công hình tượng rừng xà nu. Nó vừa là không gian thực, khung cành thiên nhiên thực ở làng Xô Man, vừa có ý nghĩa khái quát và tượng trưng rất cao. Cả hai khía cạnh này đều được tác giả thể hiện một cách rất nghệ thuật, làm nên vẻ đẹp độc đáo của hình tượng rừng xà nu. Cây xà nu, rừng xà nu đã thực sự trở thành linh hồn của tác phẩm. Cảm hứng chủ đạo của nhà văn và giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của tác phẩm được tạo nên từ chính hình ảnh đó.