Văn mẫu lớp 12

Phân tích tình huống độc đáo và hấp dẫn trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân

Phân tích tình huống độc đáo và hấp dẫn trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân
5 (100%) 480 votes

Phân tích tình huống độc đáo và hấp dẫn trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân – Bài làm 1

Loading...

Đọc Vợ nhặt chợt tôi nao lòng nhớ đến Đám cưới nghèo của Nam Cao với những bóng đen lầm lũi đi trong màn sương nhập nhoạng. Cái đói, cái nghèo ấy sao đầy kinh hoàng và u ám đến thế. Chính cái đói, cái nghèo đó tạo nên cho Vợ nhặt một tình huống hết sức độc đáo và hấp dẫn. Ngay tựa đề của tác phẩm cũng gợi lên sự chua xót, mai mỉa, một nỗi đau không thể nói thành lời. Nhặt vợ, một hành động nghe sao đơn giản và dễ dàng đến như vậy? Điều đó hoàn toàn trái ngược với quan niệm của dân gian:

“Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà

Trong ba việc ấy thật là khó thay”

van mau phan tich tinh huong doc dao va hap dan trong truyen vo nhat cua kim lan Phân tích tình huống độc đáo và hấp dẫn trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân

Vậy mà ở đây Tràng đã “nhặt” được vợ hẳn hoi, trong cơn đói khủng khiếp đang hoành hành. Chính cái lạ thường, kì dị của hành động đã tạo nên một tình huống vô cùng độc đáo mang ý nghĩa chi phối toàn bộ tác phẩm. Trước khi đi vào tìm hiểu tình huống truyện trong truyện ngắn Vợ nhặt, cần hiểu được như thế nào là tình huống truyện. Tình huống truyện là diễn biến của sự việc, sự phức tạp của tình tiết, là cái éo le, nghịch lý ở đời. Sự việc, câu chuyện “xảy ra” như thế mà ta cứ ngỡ không phải là như thế. Tình huống càng lạ thì truyện ngắn càng hay, càng hấp dẫn. Đề tài viết về nông thôn, về người nông dân hoàn toàn không có gì mới mẻ, có rất nhiều nhà văn cũng đề cập tới, nhưng sở dĩ Vợ nhặt trở thành truyện ngắn xuất sắc, độc đáo là vì tình huống được xây dựng trong truyện. Tình huống ấy phải nói rất lạ. Chính cái lạ ấy tạo nên một điều mới mẻ hấp dẫn của truyện ngắn này, và tạo nên tên tuổi Kim Lân.

Có thể thấy rằng tình huống “nhặt vợ” là một tình đầy kịch tính xưa nay chưa từng có, lạ và éo le. Cái lạ ở chỗ người như Tràng mà lấy được vợ, thậm chí là được vợ theo không. Tràng là một chàng trai ngụ cư, vập vạp, thô kệch với cái cười “hềnh hệch” vô hồn lúc nào cũng nở trên môi. Tràng nghèo túng, xấu xí hơn cả những con người tồi tàn, bèo bọt ở cái xóm ngụ cư này. Thế mà hôm nay, bên cạnh cái lưng to rộng như lưng gấu của hắn lại có cả một người đàn bà rón rén và e thẹn. Giữa cảnh đói khát nuôi thân chưa xong mà Tràng lại dám “đèo bòng” “rước cái của nợ đời ấy về”. Chính điều đó gợi nên sự kinh ngạc cho cả xóm. Sự tò mò, xoi mói cứ lan dần theo từng bước đi của Tràng và người đàn bà trên con đường xao xác, heo hút. Mọi người cứ xầm xì bàn tán, thỉnh thoảng lại rung rúc vang lên tiếng cười đầy ghê rợn như tiếng cú báo hiệu tai ương và chết chóc vọng mãi theo đôi uyên ương về cuối xóm. Mặc kệ những lời thầm thì, bàn tán, Tràng vẫn lầm lũi bước dưới những gốc gạo sù sì có “bóng những người đói đi lặng lẽ như những bóng ma” thay cho khách và tiếng quạ gào thê thiết từng hồi thay cho pháo cưới. Câu chuyện chìm trong nặng nề và sợ hãi, đầy những cảnh ma quái, đen tối. Tôi loáng thoáng hiện lên Chiều sương của Bùi Hiển, những câu chuyện ma quái buổi chạng vạng ở làng chài…rùng rợn, sởn gai óc. Rõ ràng cái đói đã len lỏi, đã thổi những hồi gió lạnh rợn xương mang mùi chết chóc phát tán khắp mọi nơi. Vậy mà Tràng lại có vợ “ Ôi chao! Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”

Tình huống lấy được vợ của Tràng còn mới lạ ở chỗ chỉ qua hai lần gặp gỡ chóng vánh, tình cờ cùng mấy câu nửa đùa nửa thật, vậy mà người đàn bà đồng ý theo Tràng về. Công việc mà xưa nay người ta vẫn cho là khó lại vô cùng dễ dàng nhanh chóng đối với Tràng. Có phải do người đàn bà ấy quá dễ dãi, chỉ với bốn bát bánh đúc mà bám lấy Tràng như thế? Khi con người ta đang đứng giữa bờ vực thẳm của sự sống và cái chết thì dù đó là một tia hi vọng mỏng manh được sống họ vẫn cố gắng bám víu, cố gắng níu giữ. Thị cũng vậy. Trong nạn đói năm 1945, người chết như “ngả rạ”, người sống “vật vờ”, lay lắt như những “bóng ma”, thị cũng không ngoại lệ “Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đĩa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt.” Lúc này thị quá mỏng manh, hệt cái cây khô thiếu nước sắp ngã qụy. Thị cố đưa tay ra bấu víu đời, bấu víu cuộc sống, mà nơi thị bấu víu vào lại là Tràng. Bốn bát bánh đúc nên duyên vợ chồng…chuyện hi hữu hiếm thấy xưa nay.

Lạ là thế, Tràng “nhặt” được vợ còn mang nhiều tình tiết éo le. Tràng lấy được vợ, hưởng hạnh phúc lớn nhất của đời người giữa cảnh “ Tối sầm lại vì đói khát”, giữa lúc cái chết và sự sống ranh giới mong manh, tưởng âm dương không còn sự cách biệt. Chen vào hạnh phúc lứa đôi là nỗi lo chạy trốn cái đói, lo níu kéo sự sống. Duyên cớ để đưa họ đến với nhau cũng thật buồn lòng: đó là cái đói. Vì thế, mấy bát bánh đúc đã thay cho trầu cau dẫn cưới. Một sự thật đáng buồn, thử hỏi nếu không có nạn đói liệu Tràng có lấy được vợ hay không? Mọi chuyện quá nhanh, đến nỗi chính Tràng- người trong cuộc cũng không khỏi ngỡ ngàng. Đưa vợ về nhà, nhìn thị ngồi giữa nhà mà Tràng vẫn cứ “ngờ ngợ như không phải thế”. Với hắn tất cả sao như một giấc chiêm bao “Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?” Cả Thị cũng vậy quá ư liều lĩnh đến với hắn, cái đói đẩy họ đến với nhau.

Loading...

Trong cái thời tao đoạn ấy, việc Tràng lấy vợ quả là tình huống oái oăm. Nên mừng hay nên lo cho đôi vợ chồng trẻ? Tình huống éo le làm mẹ Tràng- bà cụ Tứ hết sức ngạc nhiên và ngỡ ngàng. Thái độ vồn vã khác thường của Tràng khiến bà lão “hấp háy hai con mắt nhìn Tràng” rồi băn khoăn hỏi Tràng “có việc gì thế vậy?”. Nỗi ngạc nhiên càng tăng dần khi bà lão thấy một người phụ nữ trong nhà mình, đang ngồi vân vê vạt áo xấu hổ, chào mình bằng u. Bà sững lại, hàng loạt câu hỏi hiện lên trong tâm trí bà…để rồi khi hiểu ra cơ sự, lòng bà quặn thắt, se lại vì thương con, bà “cúi đầu nín lặng” xót xa. Bà đau đớn vì chưa làm tròn bổn phận làm cha làm mẹ, đó là “người ta dựng vợ gả chồng cho con cái lúc nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mày mở mặt sau này, còn mình thì…” Kim Lân miêu tả khá tài tình diễn biến độc thoại nội tâm của người mẹ thương con. Cũng như tâm trạng dằn vặt của Lão Hạc ( Nam Cao), không lo được đám cưới cho con trai. Nhưng đằng sau những bi quan, đau đớn, tủi hổ là những hi vọng, những ước mơ của bà mẹ quê, những câu chuyện vui được kể từ miệng bà cụ. nào là “ai giàu ba họ, ai khó ba đời…” sự lạc quan hiếm thấy.

Tình huống “nhặt” vợ quả thật mang nhiều nét bi hài, chỉ bằng những câu bông lơn và bốn bát bánh đúc thị theo Tràng về không điều kiện. Trong cái hoàn cảnh này thì giá trị con người thật rẻ rúng, song dưới ngòi bút tài tình của Kim Lân nó trở nên nhẹ nhàng hơn và lấp ló tình thương. Kim Lân đã đặt các nhân vật của mình vào khoảng sống mờ tối, lắt lay, nhà văn đã tìm được một cơ hội vô song để biểu hiện sự bất diệt của nỗi khát thèm được sống, được yêu thương và hi vọng. Niềm ao ước hạnh phúc không thể diệt trừ được cái đói hay sự u tối, nhưng nó cũng không bị diệt trừ. Niềm ao ước ấy cứ âm thầm vươn lên từ đói khát, tối tăm và trở nên cảm động hơn, đáng quý hơn. Không cần dùng những lời lẽ đanh thép hay “đại ngôn” nhưng tác phẩm Vợ nhặt mang đến một giá trị nhân bản to lớn. Bằng tình huống bi hài, nó xoáy vào tố cáo chế độ thực dân phát xít, nguyên nhân dẫn đến cái đói kinh hoàng. Cái đói mang đến sự chết chóc, tang thương khắp nơi và chính nó làm giá trị con người hạ xuống đến mức thấp nhất. Con người dường như mất hẳn tính người, chỉ còn sống theo bản năng để được ăn, để được sống…Con người trở nên trơ trẽn, mất nhân cách khi cái đói lởn vởn trong tâm trí. Hình ảnh người đàn bà ăn “một chặp” bốn bát bánh đúc làm người đọc liên tưởng đến bà lão trong Một bữa no của Nam Cao, cũng vì đói mà bà đã ăn rất nhiều, rất nhiều cơm, để đêm về bội thực mà chết, cái chết tức tưởi. Còn gì thê thảm hơn khi đám rước dâu có tiếng quạ kêu thê thiết đón chào, đêm tân hôn có tiếng ai khóc tỉ tê, “có mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt”? Thật xót xa!

Có người ví truyện ngắn hay như một thứ quả có nhiều vỏ luôn luôn làm đứa trẻ háu ăn bị nhỡ tàu, mỗi lần bóc ra một lớp vỏ người đọc thở phào thế là xong mọi chuyện chắc là không phải chờ đợi thêm gì nữa thì một lớp vỏ mới lại hiện ra. Với Vợ nhặt của Kim lân ta thấy rõ điều đó, cái đói hoành hành, người chết như rạ, những tưởng người như Tràng chỉ biết đi làm mướn nuôi mẹ già, không mong gì hơn, thế mà cuối cùng y lại “nhặt” được vợ…Nhặt được vợ rồi cuộc sống hắn có nhiều chuyển biến, thay đổi, giữa lúc đói kém hình ảnh Việt Minh phá kho thóc, hình ảnh cờ đỏ đâu đấy thoáng qua trong tâm trí Tràng. Một cuộc cách mạng chăng? Cứ hết lớp vỏ này lại xuất hiện lớp vỏ khác đầy bất ngờ, lôi cuốn người đọc.

Chỉ một tình huống tưởng chừng như tầm phào nhặt vợ mà gây bao xôn xao, làm nhức nhối trái tim đọc giả bao thế hệ. Nghệ thuật xây dựng tình huống của Kim Lân quả thực bậc thầy. Ngay từ đầu đề đã mang nhiều kịch tính hứa hẹn một tình huống mới lạ, “Vợ nhặt” là một sự bị động, không có tính toán, không có chủ đích, như một sự tình cờ. Từ mở đầu với ý nghĩa như thế câu chuyện đã được xoay quanh tình huống bi thương ấy. Tình huống truyện có khi là những gì rất nhỏ rất bình thường nhưng dưới tài năng của nhà văn điều đó trở nên ý nghĩa hẳn. Các nhà văn chuyên viết truyện ngắn rất để ý đến việc xây dựng tình huống truyện, bởi đó như một phần của chìa khóa thành công. Thật vậy, một chiếc lá thường xuân, qua mấy đêm mưa bão vẫn xanh bên kia tường, đã cứu sống một cô gái, đã giành lại sự sống từ tay tử thần. O.Henry viết rất nhẹ nhàng, nhưng đã gieo vào lòng người đọc những cảm xúc khó quên. Nhà văn xây dựng tình huống truyện xoay quanh một chiếc lá mà “không bao giờ bay lất phất khi có gió thổi”, đó là kiệt tác nghệ thuật của người họa sĩ già Behrman, “Behrman là cả một sự thất bại trong nghệ thuật. Trong bốn mươi năm ông vung vẩy chiếc cọ mà không hề chạm gần đến vạt áo của Người Tình. Ông luôn luôn muốn vẽ nên một kiệt tác, nhưng chưa bao giờ bắt đầu” lúc nào “giá vẽ với khung vải trống trơn, suốt hai mươi lăm năm vẫn chờ đợi đường nét đầu tiên của một kiệt tác.”. Và chiếc lá thường xuân “Sau trận mưa vùi dập và những cơn gió xoáy dữ tợn suốt một đêm dài, vẫn còn có màu xanh thẫm gần cuống, nhưng với phần rìa te tua pha màu vàng của sự tàn tạ, chiếc lá vẫn dũng cảm bám vào cái cành cao dăm bảy mét cách mặt đất.” như một niềm tin vào cuộc sống đã giúp cô gái đa sầu đa cảm vượt lên nỗi đau của bệnh tật, tiếp tục sống. Một tình tiết như vậy thôi, nhưng đã đưa O. Henri cùng Chiếc lá cuối cùng trở thành bất hủ. Hay như Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, tình huống mở ra chỉ là một bức ảnh để làm lịch do cấp trên giao cho Phùng đi thực hiện tại vùng biển nọ. Sau mấy ngày phục kích cuối cùng nhiếp ảnh gia cũng chộp được những thước phim tuyệt vời, đến đây tình huống truyện mới nở bung ra. Thì ra bức tranh nghệ thuật Phùng chụp được ngoài khơi và hiện thực cuộc sống trước mắt Phùng là những điều đối lập hoàn toàn. Hiện thực trần trụi với một gã đàn ông to lớn cứ “ba ngày một trận nhỏ, năm ngày một trận lớn”, xem việc đánh vợ để giải tỏa những bực tức của mình. Tình huống truyện được tạo nên bởi nghịch cảnh giữa chiếc thuyền ngoài xa với cái thật gần là sự ngang trái trong gia đình thuyền chài. Gánh nặng mưu sinh đè trĩu trên vai cặp vợ chồng biến người chồng trở thành kẻ vũ phu. Người vợ vì thương con mà nhẫn nhịn chịu đựng sự ngược đãi của chồng mà không hề biết đã làm tổn thương tâm hồn của đứa con. Cậu bé thương mẹ, bênh vực mẹ thành ra căm ghét cha mình. Chánh án Đẩu tốt bụng nhưng lại đơn giản trong cách nghĩ. Anh khuyên người đàn bà bỏ chồng là xong, mà không biết được rằng “Đám đà bà hàng chài ở thuyền luôn cần phải có người đàn ông chèo chống khi phong ba, để cùng nuôi con. Đàn bà ở thuyền chúng tôi sống cho con chứ không phải sống cho mình”. Trong tình huống truyện này, cái nhìn và cảm nhận của nghệ sĩ Phùng cùng chánh án Đẩu là khám phá, phát hiện sâu sắc về đời sống, về con người. Như một thứ nước rửa kì diệu câu chuyện ở tòa án huyện giúp chúng ta hiểu thêm nhiều điều và rút ra bài học về cuộc sống và con người: một cái nhìn đa diện nhiều chiều, phát hiện ra bản chất sau vẻ ngoài đẹp đẽ của hiện tượng. Bên trong cảnh đẹp như mơ, là bao ngang trái, nghích lý của đời thường. Phùng thấy chiếc thuyền nghệ thuật thì còn ở ngoài xa, còn sự thật cuộc đời lại rất gần. Qua đó giúp ta hiểu thêm về bản chất, về tầm quan trọng của tình huống và cách xây dựng tình huống truyện của nhà văn. Tình huống truyện là yếu tố làm nổi bật chủ đề của tác phẩm đồng thời tạo điều kiện cho nhà văn miêu tả tâm lý nhân vật. Trở lại với Vợ nhặt, Kim Lân đã thành công khi xây dựng nên một tình huống truyện độc đáo diễn tả hết cái thê thảm của người nông dân, thể hiện sự xót xa, ai oán trước thân phận của họ. Câu chuyện mở ra vào một buổi chiều chạng vạng và khép lại trong “ánh nắng buổi sáng mùa hè sáng lóa”. Khi bắt đầu truyện ta chỉ gặp một anh Tràng bước thấp bước cao trên đường làng dưới ánh nắng mờ nhạt của một gầm trời đầy đói khát, nhưng đến lúc kết thúc Tràng đã có một mái ấm gia đình để vun xới, để cố gắng xây đắp.

Viết về nông thôn và người nông dân nghèo, ta bắt gặp không ít nhà văn như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao…mỗi một ngòi bút là một cách viết sắc lẻm khác nhau. Nông thôn hiện lên tan tác, tiêu điều, người nông dân chịu bao đắng cay tủi khổ, cố sống cố giữ lại cho mình một chút trong sạch cuối cùng, nhưng rồi tất cả như bị tha hóa, như rơi vào đừng cùng không lối thoát. Một Lão Hạc già nua, chọn cái chết để giữ lại cho con trai mảnh vườn, tài sản cuối cùng lão còn lại sau bao ngày vật lộn với bệnh tật, đói khát. Một Chị Dậu vùng chạy, ngoài trời tối đen như mực, như tiền đồ của chị. Không lối thoát, bế tắc, nhưng đó chỉ là những người nông dân trước cách mạng. Từ khi Đảng Cộng sản thành lập, ngọn cờ Cách mạng được giương cao, người nông dân đã biết đứng lên đi theo Đảng, theo Cách mạng để giải thoát cho mình. Trong tác phẩm Vợ nhặt tuy Kim Lân không tập trung xoáy sâu vào Việt Minh vào đánh Nhật phá kho thóc…nhưng ở cuối tác phẩm ông đã mở ra một tình huống mới… “ Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới” Kết thúc như mở ra một chân trời mới tươi sáng hơn cho cuộc sống của người nông dân.

Với vốn liếng ngôn ngữ giàu có và đặc sắc, lối viết văn tưởng như dễ dàng mà không dễ phỏng theo, giản dị vô cùng mà sao cứ ánh lên chất hào hoa Kinh Bắc, Kim Lân đã xây dựng một Vợ nhặt sống mãi với thời gian. Chỉ cần thiếu đi một chút tinh tế người ta sẽ dễ dàng bỏ qua một tiếng gắt vô duyên vô cớ, một tiếng khẽ ho, những bước chân bước vội ra sân, thái độ điềm nhiên và miếng cám vào trong miệng…

Chỉ một tình huống nhỏ nhoi nhưng Kim Lân đã gợi nên biết bao điều. Mỗi ý nghĩa của tình huống lại mang một giá trị nhân bản, tấm lòng nhân đạo bao la của nhà văn. Vì thế mà tác phẩm như một ngọn lửa nhỏ lấp lánh tình yêu thương nồng ấm và tác phẩm cho ta phát hiện thêm một bản chất tuyệt vời nhân hậu, tuyệt vời đức hi sinh của những người nông dân Việt Nam . Dù đứng trước cảnh một mất một còn của mạng sống vẫn cưu mang, vẫn lấy lại phẩm giá để làm người, để sống với hi vọng, với tương lai. Và cái đọng lại cuối cùng vẫn là cách nhìn đời, nhìn người đầy xót xa và yêu thương của nhà văn, là niềm tin mà dường như ông muốn gửi trọn đến cho chúng ta qua thiên truyện ngắn. Ai đó nói rằng: Hai người cùng cúi xuống một người chỉ thấy vũng nước người kia thấy cả bầu trời đầy sao.

Truyện ngắn là thể loại năng động đã “bấm huyệt” đời sống bằng cách sáng tạo các tình huống nghệ thuật đặc sắc để phản ánh sự đa dạng và phức tạp của đời sống. Có người ví tiểu thuyết như một căn phòng đầy đủ tiện nghi, ấm cúng, còn truyện ngắn như một bức tranh đẹp duy nhất mà người chủ có óc thẩm mỹ biết lựa chọn và bức tranh đó là Thiếu nữ bên hoa huệ hoặc Người đàn bà không quen biết.

Phân tích tình huống độc đáo và hấp dẫn trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân – Bài làm 2

Đối với nghệ thuật truyện ngắn, tạo ra được một tình huống độc đáo mới lạ để làm bật nổi vấn đề, bật nổi tâm trạng, tư tưởng, tính cách của các nhân vật và chủ đề của tác phẩm là một điều có ý nghĩa then chốt. Một truyện ngắn đặc sắc là nhờ được tổ chức chung quanh một tình huống như thế, và Vợ nhặt của Kim Lân là một trường hợp tiêu biểu.

Vợ nhặt đã tạo ra được một tình huống truyện độc đáo và hấp dẫn. Đó là tình huống nhân vật Tràng, một anh nhà nghèo xấu xí, dân ngụ cư (bị người làng khinh bỉ), giữa lúc đói khát lại lấy được vợ.

Đó là một điều lạ. Lạ vì hai lí do.  Người như Tràng mà lấy được vợ, thậm chí có vợ theo! Thời buổi đói khát này, người như Tràng, nuôi thân chẳng xong mà dám lấy vợ!

Nhưng điều tưởng không thể nào có được, lại đã xẩy ra, đã trở thành hiện thực. Bởi vì, nếu không phải năm đói, người ta không đói quá, thì ai thèm lấy Tràng. Và đây là "vợ nhặt", có cần cheo cưới gì đâu. Năm đói thế nào cũng xong, có thế người như Tràng mới lấy được vợ.

Tình huống này dẫn đến sự ngạc nhiên của cả xóm cư ngụ, của bà cụ Tứ (mẹ Tràng) và của chính Tràng nữa. Như vậy, tình huống này đã làm cho câu chuyện có thể triển khai, phát triển dễ dàng bằng các cảnh với các chi tiết rất hấp dần:

Cảnh xóm ngụ cư xì xào bàn tán khi Tràng dẫn vợ về nhà.

Cảnh buổi tối bà cụ Tứ gặp người con dâu được "nhặt về” trong sự sững sờ này đến sự ngạc nhiên khác,..

Chuyện có vợ bất ngờ với cả chính Tràng nữa, khiến anh ta không thế nào tin nổi trong buổi tối dẫn vợ về báo cho mẹ biết và ngay cả sáng hôm sau khi đã là vợ chồng ("Nhìn thị (vợ Tràng) ngồi ngay giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?").

Tình huống trên, đồng thời hết sức éo le. Đó là chuyện nên vui hay nên buồn nên mừng hay nên lo?

Chính điều này lại thúc đẩy cho câu chuyện tiếp tục phát triển để nhà văn có thể khắc họa tâm trạng nhân vật phong phú và tính cách nhân vật rõ nét hơn. Trong cái tình huống hết sức éo le ấy, ta thấy một sự xáo trộn buồn tủi, vui mừng, lo sợ ở trong tâm trạng của mọi người:

Người trong xóm ngụ cư mừng cho anh ta và cũng lo cho anh ta.

Bà cụ Tứ mừng cho con nhưng vừa thương vừa tủi, vừa lo cho con.

Chính Tràng cũng vừa vui vừa "chợn": "thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng".

Tình huống trên dẫn đến cái hạnh phúc thật mong manh, tội nghiệp của đôi vợ chồng và bà mẹ nghèo khổ. Hạnh phúc của vợ chồng Tràng và niềm vui của bà cụ Tứ cứ phải diễn ra trong một không khí ảm đạm chết chóc, với những tiếng hờ khóc người chết đói vẳng đưa tới ("Giữa sự im lặng của đôi vợ chồng mới, có tiếng ai hờ khóc ngoài xóm lọt vào tỉ tê lúc to lúc nhỏ"). Hạnh phúc của họ đã diễn ra trong âm hưởng của tiếng khóc thê thảm ấy. Và tiếp đó là bữa ăn đầu tiên đón nàng dâu mới thật tội nghiệp: ăn cháo cám. Ăn mà không dám nhìn nhau… Tình huống đó đà tạo cảm hứng, tạo cảnh, tạo chi tiết để nhà văn có thề viết nên những trang thật cảm động về câu chuyện "Vợ nhặt" rất hiện thực và cũng rất nhân đạo trong trận đói khủng khiếp năm 1945.

Tình huống "Vợ nhặt" độc đáo và hấp dẫn là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của nhà văn Kim Lân. Tình huống ây không chỉ tạo điều kiện cho câu chuyện triển khai và phát triền dễ dàng, tốt đẹp, mà còn góp phần bộc lộ sâu sắc chủ đề truyện: niềm khát khao tổ ấm gia đình và tình thương giữa những con người nghèo khổ ngay trong trận đói khủng khiếp nhất.

Phân tích tình huống độc đáo và hấp dẫn trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân – Bài làm 3

Truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân viết về cuộc sống ngột ngạt, bức bối của dân ta năm 1945, với nạn đói khủng khiếp làm chết hơn hai triệu người từ miền Bắc tới miền Trung. Tác giả viết truyện này ngay trong nạn đói, với cái tên ban đầu là Xóm ngụ cư, nhưng vì thất lạc bản thảo nên đến sau hòa bình 1954 ông mới viết lại và cho ra mắt bạn đọc với tựa dề là Vợ nhặt. Hơn nửa thế kỉ đã trôi qua nhưng tác phẩm vẫn xứng đáng là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của văn xuôi Việt Nam hiện đại.

Yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm chính là ở chỗ nhà văn Kim Lân đã sáng tạo ra một tình huống truyện đặc biệt, một tình huống ép le, trở trêu chứa đựng đầy kịch tính nhưng tại chứa đựng ý nghĩa nhân văn vô cùng sâu sắc.

Cốt truyện đơn giản: Một anh chàng ngụ cư nghèo khổ, độc thân, đứng tuổi và xấu xí làm nghề kéo xe bò thuê, chỉ với vài câu bông đùa và mấy bát bánh đúc mà kiếm được cô vợ nhặt – một cô gái đang dở sống dở chết vì đói. Họ thành vợ thành chồng giữa khung cảnh tối sầm lại vì đói khát. Đêm tân hôn của họ diễn ra âm thầm trong bóng tối âm u, lạnh lẽo, điểm những tiếng hờ khóc tỉ tê của những nhà có người chết đói theo gió vẳng lại. Bữa cơm cưới của họ chì có cháo loãng, rau chuối và muối hột. Mẹ chồng đãi con trai và con dâu món chè nấu bằng cám. Bữa cơm diễn ra trong tiếng trống thúc thuế dồn dập. Câu chuyện của ba mẹ con xoay quanh chuyện Việt Minh hô hào dân chúng không đóng thuế và tổ chức phá kho thóc của Nhật chia cho người nghèo.

Cảnh anh Tràng đưa cô vợ nhặt về nhà là một tình huống lạ lùng, tạo ra sự ngạc nhiên và thú vị cho cả cái xóm ngụ cư đang hấp hối và lạ lùng ngay cả với mẹ con Tràng. Anh dẫn người đàn bà lạ mặt về nhà lúc trời nhập nhoạng tối. Hai người lủi thủi đi vào cái xóm ngụ cư heo hút, tồi tàn ở mé sông. Nhà cửa hai bên đường úp súp, tối om, không một ánh đèn, ánh lửa, chẳng khác gì những nấm mồ hoang. Khung cảnh ngập tràn tử khí. Sự sống chỉ còn thoi thóp. Bóng đen chết chóc đang bao phủ khắp nơi.

Tràng dẫn người đàn bà mới quen về để làm vợ, để tạo dựng gia đình, tiếp nối sự sống. Trên bờ vực thẳm của cái chết, họ tìm đến sự sống. Tràng vui sướng vì sự kiện to lớn bất ngờ của đời anh : anh đã có vợ, anh đang dẫn vợ về nhà. Đói, chết tràn lan. Mình cũng đói, mẹ già cũng đói, thế mà lại lấy vợ vào lúc này. Quả là chuyện lạ lùng và thú vị!

Trước hết là lạ lùng với dân xóm ngụ cư. Cái cảnh Tràng đi trước với vẻ mặt phởn phở khác thường và người đàn bà đi sau cách ba bốn bước với cái dáng thèn thẹn hay đáo để làm cho mọi người tò mò kéo nhau ra xem. Đầu tiên là lũ trẻ. Đang ủ rũ vì đói, chúng bỗng nhao nhao nói cười, trêu ghẹo anh Tràng : Anh Tràng ơi, chông vợ hài! Dân xóm ngụ cư thấy ồn ào thì kéo nhau ra xem rồi thì thầm bàn tán. Rồi họ hiểu ra và khuôn mặt họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên. Từ trong sâu thẳm tâm hồn họ vẫn le lói một niềm vui. Họ thú vị nghĩ tới chuyện anh Tràng bỗng dưng có vợ và thực lòng muốn chia vui với anh. Cái xóm ngụ cư đang thoi thóp chờ chết này chợt bừng lên một thoáng sống. Nhưng vui đấy lại lo ngay đấy. Họ lo thay cho Tràng : Ôi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không ? Ấy là họ lo cho sự sống đang phải đối mặt với cái chết và cứ hi vọng vượt lên cái chết.

Bà cụ Tứ mẹ anh Tràng ngạc nhiên khi nhìn thấy cô gái lạ ngồi ở giường con trai mình. Được gọi bằng u, bà càng chẳng hiểu ra làm sao. Cho tới lúc nghe Tràng bảo : Kìa nhà tôi nó chào u… thì bà mới vỡ lẽ : Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình… Thì ra là thằng con trai mình đã kiếm được vợ và dẫn về đây. Tâm trạng bà cụ buồn tủi, mừng, lo lẫn lộn. Buồn tủi vì làm cha làm mẹ mà không tròn trách nhiệm đối với con cái, nghèo khổ đến nỗi không thể cưới được vợ cho con. Mừng vì tự nhiên con trai có được vợ, dù là vợ nhặt. Còn lo bởi bà cụ băn khoăn : biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không ? Càng ngẫm nghĩ, bà cụ càng thương con trai và thương cô gái xa lạ kia vô hạn : Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt.

Đến ngay chính anh Tràng cũng ngạc nhiên không kém. Ngạc nhiên đến sửng sốt, không tin là sự thật: Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư ? Hà ! Việc xảy ra thật hắn cũng không ngờ, hắn chỉ tầm phơ tầm phào đâu có hai bận, ấy thế mà thành vợ thành chồng… Ngày hôm sau thức dậy, nhìn chị ta quét dọn sân vườn, Tràng vẫn chưa dám tin là mình đã có vợ. Chuyện xảy ra cứ như trong một giấc mơ, nhưng người đàn bà bằng xương bằng thịt kia chính là vợ anh, dẫu chẳng phải cưới xin gì.

Tình huống mà Kim Lân đặt ra trong truyện là một tình huống éo le, trớ trêu, không biết nên buồn hay nên vui. Bản thân Tràng lúc đầu thì mừng vì tự nhiên có được vợ, nhưng rồi anh chợn, nghĩ: Thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng. Hàng xóm cũng lo thay cho anh và nhất là người mẹ già lo và thương đứt ruột. Tác giả đặc tả đêm tân hôn của vợ chổng Tràng với những chi tiết thật ấn tượng và chứa đựng ý nghĩa sâu xa: Tràng chỉ dám thắp đèn có một lúc rồi tắt. Hai người nằm lặng lẽ bên nhau trong bóng tối hãi hùng, ghê rợn bởi tiếng hờ khóc tỉ tê văng vẳng từ những nhà có người chết đói.

Chút hạnh phúc nhỏ nhoi, mong manh của họ bị cái đói, cái chết bủa vây. Nhưng sự sống là bất diệt. Từ trong cái chết, sự sống vẫn sinh sôi, nảy nở. Bi thương cùng cực thành dữ dội. Sự sống bất chấp cái chết, điều đó chứng tỏ ý chí con người và quy luật của cuộc đời mạnh mẽ biết chừng nào !

Đặt nhân vật vào tình huống éo le như vậy, nhà văn đã làm nổi bật ý nghĩa nhân văn sâu xa của tác phẩm. Cho dù không trực tiếp nói tới thực dân Pháp, phát xít Nhật và chính quyền phong Kiến tay sai nhưng từ câu chuyện về người vợ nhặt vẫn toát lên lời tố cáo đanh thép tội ác tày trời của chúng đã gây ra nạn đói thảm khốc có một không hai trong lịch sử nước ta. Quan trọng hơn cả là truyện đã thể hiện thành công vẻ đẹp tinh thần ẩn giấu trong cái vẻ ngoài xác xơ vì đói khát của những người nghèo khổ. Trong cái cuộc sống không đáng gọi là sống ấy, họ vẫn nhen nhóm niềm tin và hi vọng vào một sự đổi đời, vào tương lai tươi sáng. Đó chính là giá trị nhân văn làm nên sức sống lâu dài của tác phẩm.

Phân tích tình huống độc đáo và hấp dẫn trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân – Bài làm 4

Sự thành công của mỗi truyện ngắn có sự góp mặt của nhiều yếu tố, trong yếu tố đóng vai trò then chốt là: tình huống, nhân vật và cách trần thuật, nhà văn có những điểm mạnh riêng để tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm mình. Kim Lân đã rất thành công trong các truyện ngắn của mình khi sáng tác được những tình huống truyện đặc sắc. Đọc Vợ nhặt của Kim Lân ta cảm rõ điều đó.

Trong Vợ nhặt của Kim Lân, tình huống truyện đã giúp nhà văn xây dựng bộc lộ sâu sắc tính cách và tâm lí nhân vật. Đồng thời gúp ông bộc lộ tâm tư ti và những điều mà bản thân ông muốn gửi gắm cho bạn đọc. Truyện cũng thế mà hấp dẫn hơn.

Tình huống của Vợ nhặt thể hiện ngay ở tên truyện. Một anh nông dân “nhặt” được vợ. Mà nào anh ta có bảnh bao hấp dẫn gì: vừa nghèo, vừa xấu trai, lại là dân ngụ cư. Vậy mà chỉ “tầm phơ tầm phào” mấy câu mà có vợ theo về.

Sự hấp dẫn của tình huống truyện trước hết là ở đó. Như một nghịch lý, nó gây ngạc nhiên cho mọi trường trong xóm ngụ cư, cho bà cụ Tứ, mẹ Tràng cho cả bản thân Tràng là kẻ đã “nhặt” được vợ.

“… người trong xóm lạ lắm: Họ đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán…”Đến khi hiểu ra là Tràng có vợ theo về, thì họ lại càng ngạc nhiên hơn Người thì “cười lên rung rúc”. Người lại lo dùm cho anh ta “Ôi chao ! đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thời này không ?”.

Bà cụ Tứ hiểu tình cảm con mình hơn ai hết nên càng khó tin Tràng có vợ, có người đàn bà đứng ngay ở đầy giường con mình, bà cụ cứ ngơ ngác tự hỏi: “Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ ? Sao lại chào mình bằng u? Ai thế nhỉ? “ Bà cụ làm sao hiểu nổi. Nghèo như con bà ai người ta thèm lấy có vợ được. Vả lại trời làm đói khát thế này, nuôi thân chẳng nổi, lấy gì vợ nuôi con?

Bản thân Tràng cũng lấy làm lạ cho mình. Nhìn vợ, ngồi ngay giữa nhà, anh ta “vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư ?”.

Đúng là một tình huống lạ. Nhưng khi hiểu ra rồi thì lại thấy có gì đáng ngạc nhiên đâu. Cái lý do dễ hiểu biết bao, nhưng cũng buồn tủi biết bao, tội nghiệp bao! Điều này, bà cụ tứ sống gần hết đời người phải làm bạn với cái nghèo mới sự thấm thía: “Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiều cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con trong lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Con mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhem của bà cụ rủ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau cho qua được cơn đói khát này không ?”.

Lòng bà cụ thật là ngổn ngang trăm mối: vừa mừng vừa lo, vừa vui vừa tủi. Mừng vui vì dù sao con mình có có vợ, điều mà bổn phận làm mẹ bà đã không lo nổi cho con: “ ừ, thôi thì các con đã phải duyên kiếp với nhau, u cũng mừng ". Nhưng lo buồn, tủi nhục vì “người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được…”. Như thế là tình huống truyện đã làm bộc lộ sâu sắc tâm trạng, tính cách các nhân vật. Bà cụ Tứ do từng trải nhiều nên tâm lí diễn biến phức tạp hơn cả. Còn Tràng thì lo ít, vui nhiều. Mới đầu cũng “chợn”, nhưng liều sau đó chặc lưỡi kệ !”. Trên đường đưa vợ về nhà, thấy người ta tò mò nhìn ngó, “hắn lại vậy làm thích ý lắm, cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình”. Niềm vui át hẳn nỗi lo, đến nổi anh ta không hiểu được tại sao vợ lại buồn, mẹ lại khóc: “Chán quá, chẳng đâu vào đâu tự nhiên cũng khóc !”.

Bỗng nhiên “nhặt” được vợ, hạnh phúc đến với Tràng quá lớn và quá đột ngột. Mãi đến sáng hôm sau anh ta vẫn còn thấy “trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Và cùng với niềm vui, ý thức về bổn phận, về trách nhiệm đối với cái tổ ấm của mình, cũng nảy sinh. Anh ta thấy thương yêu gắn bó với mọi người, với cái nhà, cái sân, khoảnh vườn của mình một cách lạ lùng. “Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người”.

Buồn tủi nhất là tâm trạng của người vợ Tràng “nhặt” được. Lấy chồng chuyện thiêng liêng là sự phó thác cả cuộc đời mình cho người đàn ông mình yêu quý. Vậy mà chị ta nào có biết Tràng là ai, tốt xấu thế nào đâu. Chỉ một câu hò bâng quơ và mấy bát bánh đúc riêu cua là theo ngay về. Cái đói đã đẩy người đàn bà đến chỗ chẳng còn biết xấu hổ là gì, mất hết ý thức tự thấy mình không hơn gì cái rơm cái rác, người ta có thể “nhặt” được ngoài đường, xó chợ…

Nhưng chủ đề của Vợ nhặt không chỉ có thế. Tình huống truyện đã đặt nhân vật kề bên nanh vuốt của cái chết. Một không khí chết chóc cứ len lỏi trong tác phẩm với mùi khói, khét lẹt của những đống rấm nhà có người chết lan tới và tiếng hờ khóc ngoài xóm lọt vào tỉ tê lúc to lúc nhỏ… Nhưng qua tâm trạng của các nhân vật, nhất là Tràng và bà cụ Tứ, thấy người dân lao động tin ở sự sống vẫn hi vọng ở tương lai, cũng khao khát một tổ ấm gia đình để được thương yêu nhau và cùng chia xẻ vui buồn, để có bổn phận với nhau cũng như có nhiệm với đời…

Đó là bản chất lạc quan của nhân dân lao động. Một chủ nghĩa lạc quan có căn cứ gì rõ rệt “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”… vẫn tồn tại dai dẳng ở những con người luôn sống hết mình với cuộc sống trong lao động và đâu tranh để sinh tồn. Niềm tin tưởng lạc quan ấy cuối cùng đã gặp được ánh sáng của cách mạng với lá cờ Việt Minh bay phấp phới báo hiệu cuộc đổi đời vĩ đại của dân tộc đang sắp sửa.

Bà cụ Tứ càng để lại cho người đọc những thiện cảm tốt đẹp. Thấy con lấy vợ trong hoàn cảnh khó khăn, bà không khỏi bùi ngùi, thương xót: “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái, mở mày mở mặt sau này. Còn mình thì..”. Nhưng, bà thực sự vui mừng khi con trai bà đã yên bề gia thất: “Bà lão nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo, u ám của bà rạng rỡ hẳn lên…”. Rồi trong bữa cơm, cả ba mẹ con đều quên đi hiện thực đau lòng để hướng đến một tương lai tươi đẹp hơn:

“Tràng ạ. Khi nào có liền ta mua lấy đôi gà. Tau tin rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này, ngoảng đi ngoảng lại, chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem…”

Nghĩ đến cái sống, không nghĩ đến cái chết là ở chỗ đấy. Bà cố gắng xua đi lại thực hãi hùng, để nhen nhóm niềm tin vào cuộc sống cho các con. Tuy nhiên món chè cám đã nhắc họ về với thực tại. Chao ôi, chè cám! Phải đói đến một mức nào đó, người ta ăn cám mới cảm thấy ngon! Cuộc sống khắc nghiệt, đày đọa bắt họ phải sống cuộc sống loài vật, nhưng nào có dập tắt được phần Người đáng quý trong mỗi con người. Cái phần Người ấy sẽ giúp họ vượt qua đoạn khó khăn này.

Sẽ lại thiếu sót nêu bỏ qua hình ảnh những người nông dân trên đê Sộp cùng nhau đi phá kho thóc, khi nói đến những kể hấp hối trong vòng tử địa vẫn hướng tới cuộc sống. Đó là hình ảnh không hề ngẫu nhiên chút nào, được nhà văn chẩn bị từ trước. Nó là dấu hiệu của “bước đường cùng”, không còn cách giành sự sống nào khác, phải vùng dậy đấu tranh, hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Tràng thấy “ân hận, tiếc rẻ vẩn vơ, khó hiểu” bởi anh chưa bắt được mạch nguồn cách mạng. Trước mắt người đọc lúc này, sự sống trở thành mục đích chung của mọi người; họ đấu tranh, đoạn tuyệt dứt khoát với cái chết. Và chắc chắn, mẹ con Tràng sẽ tiếp nối dòng người kia, giành sự sống cho mình.

Có thể khẳng định, truyện ngắn Vợ nhặt là một thành công của Kim Lân. Tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của ông cũng là đỉnh cao của truyện ngắn hiện đại Việt Nam. Người đọc nhớ mãi một Vợ nhặt với tình huống truyện độc đáo và chất nhân văn cao cả của tác phẩm.

Phân tích tình huống độc đáo và hấp dẫn trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân – Bài làm 5

Kim Lân được mệnh danh là cha đẻ của đồng ruộng, là nhà văn một lòng đi về với đất với người, với những giá trị thuần hậu nguyên thủy của nông thôn Việt Nam. Lần đầu tiên có một nhà văn xắn quần lội xuống bùn để lắng nghe hơi thở nồng nàn của đất đai của cuộc sống con người để tái hiện mồn một trên mỗi trang viết. Văn Kim Lân hấp dẫn người đọc bởi cốt truyện đơn giản, lối kể hấp dẫn và khả năng phân tích tâm lý nhân vật sắc sảo. Trong số những tác phẩm của ông thì truyện ngắn Vợ nhặt được in trong tập " Con chó xấu xí" xuất bản năm 1962 là tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Kim Lân. Trong tác phẩm ông đã ghi lại sự thật mặn chát của cuộc đời người nông dân trong nạn đói 1945, tất cả sự thật nghiệt ngã ấy được nhà văn thông qua tình huống truyện Vợ nhặt.

Xây dựng tình huống là vấn đề then chốt của truyện ngắn, là cánh cửa mở ra để người đọc đi vào khám phá giá trị của một tác phẩm văn chương. Nhà văn thường xây dựng hoàn cảnh điển hình để đặt nhân vật vào đó khám phá vẻ đẹp tâm hồn tính cách nhân vật đồng thời tái hiện bức tranh đời sống xã hội. Kim Lân cũng thế, ông đã tái hiện không gian năm đói 1945 làm phông nền cho việc anh cu Tràng nhặt được vợ. Cái năm Ất Dậu ngày ấy đã trở thành nỗi kinh hoàng của lịch sử, là vết thương lòng không bao giờ mờ được trong trái tim mỗi người dân Việt Nam. Hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói là con số mà hàng trăm hàng nghìn năm sau mỗi lần nhắc tới con cháu ta không khỏi rùng mình ghê sợ về cái thời mà trên trời từng đàn quạ đen rỉa xác người chết đói bay lên, gào lên từng hồi thê thiết. Dưới đất bên những gốc đa gốc gạo xù xì bóng những người đói đi lại dật dờ như những bóng ma. Người Thái Bình, Nam Định đội chiếu lũ lượt bồng bế dắt díu nhau đi trông xanh xám dật dờ như những bóng ma. Không khí vẩn lên mùi ẩm mốc của rác rưởi và mùi gây của xác người, tất cả tạo nên một bầu không khí ảm đạm tang tóc và thê lương. Cái đói, cái chết len lỏi vào ngõ ngách, gõ cửa từng nhà, đụng chạm đến từng người, cõi âm hòa với cõi dương, cuộc sống mấp mét bên bờ vực của cái chết. Giữa bối cảnh tối xầm lại vì đói khát ấy thì một việc hệ trọng nhất của một đời người lại diễn ra một cách nhanh chóng vội vàng – đó là việc anh cu Tràng có vợ.

Tràng có vợ là một truyện lạ bởi hắn vốn là một người xấu trai mà dân ngụ cư cho là ế vợ "hai con mắt nhỏ tí gà gà đắm vào bóng chiều, hai quai hàm bạnh ra, cái mặt bặm lại lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lý thú vừa dữ tợn. Cái đầu trọc nhẵn chúi về đằng trước, cái lưng dài rộng như là lưng gấu lại thêm tật vừa đi vừa ngẩng mặt lên trời cười hềnh hệch". Nhìn Tràng chẳng khắc gì sản phẩm mà tạo hóa chạm khắc vội vàng. Thật vậy, lời văn của Kim Lân như thứ nước rửa ảnh làm nổi hình nổi sắc nhân vật trên từng câu chữ. Một người xấu như Tràng mà có vợ, thậm chí nhặt được vợ đó chẳng phải là một chuyện lạ hay sao. Không chỉ xấu mà Tràng còn rơi vào kiếp nghèo, nghèo đến tận đáy cùng của xã hội. Hãy nhìn căn nhà mà hai mẹ còn Tràng ở chẳng khác gì túp lều xiêu mưa ngã gió mọc trên những búi cỏ dại " lổn nhổn ", thêm vào đó tài sản của Tràng còn là một đống quần áo rách vắt khươm mươi niên trong một góc nhà, là hai cái ang nước để khô cong trơ trọi dưới gốc cây ổi , là đống rác mùn tung bành ngay giữa lối đi. Có thể nói cái nghèo đã kéo ghì cuộc sống của mẹ con Tràng xuống sát đất để rồi cái chết đang rình rập bủa vây. Kim Lân đã chọn những chi tiết rất thật, rất đời thường, lựa chọn những ngôn ngữ mộc mạc giản dị và gần gũi để tái hiện bức tranh hiện thực đời sống xám ngắt trong năm Ất Dậu 1945. Đã nghèo, Tràng lại còn mang thân phận của dân ngụ cư nên thật tội nghiệp, bởi coi khinh miệt thị dân ngụ cư đã đi sâu vào tiềm thức đến mức trở thành lời truyền miệng:

Trai làng ở góa còn đông

Cớ sao em lại lấy chồng ngụ cư

Đặc biệt là ở việc Tràng có vợ chỉ với một câu nói bông đùa trong lần gò lưng kéo xe bò thóc, hắn nhìn thấy những cô gái ngồi vêu mặt ra ở dốc tỉnh, Tràng đoán họ ngồi đó để nhặt hạt rơi hạt vãi hay ai có việc gọi thì làm. Họ chính là kiếp người trôi dạt bị cơn bão táp của đói khát đẩy xô. Trước cảnh đó Tràng cất câu hò cho đỡ nhọc chứ không có ý chòng gẹo cô nào:

Muốn ăn cơm trắng mấy giò này

Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì

Chẳng hiểu sao lúc đó chàng lại có thể nói ra những lời có cánh đến như vậy. Dẫu biết rằng có khối đấy mà cơm trắng mấy giò thế mà Thị vẫn ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng. Hắn thích chí cười tít cả mắt bởi từ ngày cha sinh mẹ đẻ đến giờ chưa có ai cười với hắn tình tứ như thế. Câu hò cất lên giữa ngày đói khát sẽ chẳng bao giờ lịm tắt mà luôn để lại dư vang, biết đâu một ngày nào đó nó trở thành chiếc phao cứu sinh cứu vớt người chết đuối vì đói khát. Đôi khi nó là cái cớ là nhịp cầu dẫn con người đến với nhau. Quả thật lần thứ hai khi trả hàng xong Tràng ngồi uống nước ở cổng chợ tỉnh thì Thị ở đâu sầm sập chạy đến đứng sưng sỉa trước mặt Tràng:" Điêu! người thế mà điêu". Thoáng đầu Tràng chẳng hiểu gì nhưng trong phút chốc Tràng nhận ra Thị, Thị hôm nay rách quá, trên khuôn mặt lưỡi cày chỉ trơ lại hai con mắt. Nghĩa là Thị đang mấp mé bên bờ vực của cái chết, chỉ biết dõi theo câu hò xăm xăm đi tới tìm Tràng mà thôi, kiếp đời trôi dạt như 

Thị thì biết đâu là bến bờ neo đậu:" Tối đâu là nhà, ngã đâu là giường". Thị đích thực là người của cái thời:

Con đói lả trên lưng mẹ khóc

Mẹ đợ con đi nấu thóc cầm hơi

Kiếp người cơm vãi cơm rơi

Biết đâu nẻo đất phương trời mà đi

Nhìn Thị tình yêu thương đồng loại trong Tràng trỗi dậy, hắn sẵn sàng đãi Thị "thích ăn gì thì ăn", nghe thế hai con mắt trũng hoáy của Thị tức thời sáng lên, nghĩa là Thị đã tìm thấy một nguồn sống: " ăn nhé"…"ăn thì ăn chứ sợ gì". Thế là Thị cắm đầu ăn liền một chặp bốn bát bánh đúc chẳng nói năng gì. Nhìn Thị lúc này có vẻ như rất trơ trẽn, Thị đã chối bỏ liêm xỉ, đánh rơi lòng tự trọng cắm đầu mà ăn. Kẻ hời hợt thì nhìn Thị bằng cặp mắt khinh bỉ, người sâu sắc thì ngậm ngùi cám cảnh rưng rưng nước mắt mà cảm thông xót xa cho Thị. Cái gì đã làm cho Thị đánh rơi mất lòng tự trọng? Cái gì đã làm cho Thị trở nên trơ trẽn? Phải chăng đó là cái đói, cái chết? Vì sống cho nên Thị phải ăn bởi sống mới là nhân văn nhân bản. Đã có bao triết lý ném ra giữa đời để bênh vực những người như Thị, ví như ngạn ngữ Hi Lạp cho rằng:" Có ai chết hai lần để học bài học kinh nghiệm về cái chết bao giờ đâu" hay Nguyễn Khải đã có lúc khẳng định " Muốn chết nhưng đời còn dài nên phải sống cho dù phải sống táo bạo, sống ghen tị với mọi người và hờn giận với chính bản thân mình". Thật vậy, hãy một lần ta đặt mình vào hoàn cảnh của Thị ta sẽ thấu hiểu được nỗi tủi hờn và nhục nhã trong Thị. Và như vậy Thị thật đáng thương, đáng chia sẻ hơn là đáng trách. Xong bữa tiệc bánh đúc Thị cầm cây đũa quệt ngang miệng và nói "hà, ngon", "về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố", Tràng nói:" làm đếch gì có vợ. Này nói đừa chứ có về với tớ thì khuôn hàng lên xe rồi cùng về", Tràng cứ nghĩ mình nói đùa, ai ngờ Thị về thật. Thế là một đám cưới diễn ra.

Tràng có vợ thực là một chuyện éo le đám cưới của Tràng và Thị cứ ngỡ như chỉ có trong chuyện cổ tích, vậy mà nó lại là một đám cưới có thật ở xã hội Việt Nam khi chìm dưới ách thống trị của bọn thực dân phong kiến. Đám cưới gì mà không một lễ nghi dạm hỏi? chẳng lẽ bốn bát bánh đúc là toàn bộ sính lễ ư? Đám cưới gì mà không một kẻ đón người đưa, thậm chí cuộc đón dâu từ chợ huyện về xóm ngụ cư chỉ có hai người. Cô dâu với chiếc nón rách nghiêng nghiêng che nửa khuôn mặt, quần áo rách như tổ đỉa. Chú rể thị lúc nào cũng ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch tự đắc với mình. Đám cưới đi trên nền tảng của một đám tang chung toàn dân tộc, những tưởng rằng họ đang dắt díu nhau về cõi chết. Tràng thật liều – cái liều của Tràng là ở thời buổi này nuôi than mình còn chưa nổi lại còn đèo bòng. Thị cũng thật liều – Thị liều nhắm mắt đưa than, theo không một chàng trai xa lạ về làm vợ. Biết đâu hai cái liều hợp lại sẽ thành một tổ ấm.Về đến nhà,bước chân vào căn nhà rúm ró xiêu vẹo, quần áo, niêu bát vứt bừa bộn cả trên giường dưới đất, Thị “nén một tiếng thở dài”, “cái ngực gầy lép của Thị nhô lên”. Dường như trong hơi thở dài ấy chứa đựng nỗi thất vọng bởi nhìn cảnh ngộ của gia đình Tràng thì liệu Tràng có phải là cái bến vững chắc cho con thuyền đời thị neo đậu hay không? Mặc dù Tràng đon đả thanh minh: “không có người đàn bà nhà cửa thế đấy”, “ngồi đây…ngồi xuống đây, tự nhiên!” thế nhưng Thị chỉ dám ngồi “mớm” ở mép giường. Ai dám bảo Thị trơ trẽn nữa, ai dám bảo Thị đánh rơi mất long tự trọng nữa, mà lúc này con người thật của thị đã trỗi dậy trong sự tủi nhục ngậm ngùi chua chát.Thị ngồi mớm ở mép giường trông nó chông chênh như chính cuộc đời của Thị vậy. Còn Tràng nhìn Thị ngồi ngay giữa nhà mà chợt nghĩ hóa ra mình đã có vợ rồi và chàng không hiểu vì sao Thị lại buồn như thế. Người đời thường nói: “Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà/ Trong ba việc ấy thật là khó khăn” ấy thế mà việc có vợ đối với Tràng dễ như trở bàn tay, như nhặt rơm nhặt rác ở ngoài đường. Sinh ra cũng là kiếp người mà sao Thị tội nghiệp đến vậy, nhìn Thị mà nỗi buồn thêm nặng trĩu.Tâm trạng của bà cụ Tứ thì chứa đầy những cảm xúc ngổn ngang và mâu thuẫn. Bà cụ vui vì cuối cùng con mình cũng có vợ nhưng lại tủi thân vì sự trớ trêu của số phận, bà mẹ nghèo nặng trĩu những nỗi lo âu cho tương lai của con mình :"liệu chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không". Câu hỏi chất chứa nỗi hoang mang, ám ảnh kiếp bần hàn không lối thoát và cả sự rình rập trước ngõ của cơn ác mộng về cái đói chưa bao giờ dữ dội đến thế". Trong lòng bà, ta cảm thấy cả nỗi buồn của một người mẹ không được thấy con trong ngày vui, không có lấy một mâm cơm làm lễ gia tiên. Trong lời nghẹn ngào tâm sự của bà còn có cả sự xót xa, một chút ân hận vì đã không làm được đầy đủ bổn phận của một người mẹ đối với con :"Năm nay đói to đấy, chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá" . Cái chậc lưỡi mặc kệ số phận của Tràng; hành động “nén một tiếng thở dài” tủi thân của người đàn bà khi liếc nhìn gia cảnh nhà chồng; sự nghẹn ngào, xót xa của bà cụ Tứ trước hạnh phúc của con trai mình… khiến người đọc không biết nên vui hay nên buồn, không cảm nhận được đây là hạnh phúc hay bất hạnh, sự sống hay là cái chết.

Đặt nhân vật của mình vào tình huống bất ngờ và éo le như vậy, Kim Lân đã làm nổi bật được nhiều ý nghĩa sâu sắc cho tác phẩm của mình. Với việc xây dựng tình huống truyện độc đáo nhà văn đã thể hiện rõ chủ đề của tác phẩm đồng thời tố cáo hiện thực xã hội đã tước đoạt hết quyền sống, quyền hạnh phúc của con người. 

Có thể nói, ấn tượng của người đọc với tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân chính là ở tình huống truyện đầy độc đáo, bất ngờ nhưng cũng không kém phần éo le của thiên truyện. Thành công đó khiến truỵên ngắn của Kim Lân sống được với thời gian. Cái nạn đói năm 1945 với hơn hai triệu người bị chết đói ấy, rồi một lúc nào đó sẽ lùi vào dĩ vãng. Nhưng câu chuỵên “nhặt vợ” của anh Tràng thì vẫn sống cùng tâm hồn, cùng nỗi đau và niềm tin của người dân Việt Nam.

Phân tích tình huống độc đáo và hấp dẫn trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân – Bài làm 6

"Sự sống nảy sinh trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy" (Mùa lạc – Nguyễn Khải). Đó là dư âm vang sâu nhất trong tâm hồn độc giả chúng ta mỗi khi đọc tác phẩm Vợ nhặt, một thiên truyện ngắn đặc sắc với những tình huống độc đáo, hấp dẫn, mang đầy tinh thần nhân đạo cao cả, được rút từ tập truyện ngắn Con chỏ xấu xí (1962).

Trong nghệ thuật viết truyện ngắn, tìm ra được một tình huống truyện độc đáo là cực kỳ quan trọng. Tình huống thế nào đó nó sẽ làm bật nổi tất cả: từ không khí của truyện, đến số phận, tâm lý nhân vật, chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Vậy thế nào là tình huống?

Theo Nguyễn Minh Châu tình huống truyện như "Một khúc, một lát cắt của đời sống" một khoảnh khắc ngắn ngủi song lại giúp cho người đọc hình dung được diện mạo toàn thể của đời sống. Ở truyện ngắn Vợ nhặt, cái khoảnh khắc vào truyện khá độc đáo. Nó bắt đầu thời điểm cái nạn đói tràn đến phản ánh nạn đói khủng khiếp năm 1945. Ở đó nổi lên hai hình ảnh: Con người năm đói và không gian năm đói. Con người thì "hốc hác, u tối, xanh xám, dật dờ như những bóng ma". Không gian thì ngổn ngang những xác chết, tiếng khóc, tiếng quạ kêu gào lên từng hồi thê thiết, một bầu không khí tang tóc, thê lương bao trùm lên tất cả. Trong bối cảnh như vậy, một người như Tràng, một gã trai nghèo khổ, thô kệch, lại là dân ngụ cư, lâu nay ế vợ, ấy thế mà bỗng dưng nhặt được vợ chỉ nhờ có bốn bát bánh đúc, như người ta nhặt cái rơm cái rác bên đường. Cô dâu quần áo tả tơi, cái nón cũ nát đang cúi đầu theo Tràng về làm dâu và một đám cưới lạ lùng đầy xót thương đã diễn ra. Thật là một tình huống rất oái oăm éo le, rất nghịch cảnh mà có thật không biết đáng mừng hay đáng lo, đáng vui hay đáng buồn, đáng cười hay đáng khóc.

Tình huống ấy cũng đã tạo nên diễn biến, vận động tâm lý thật phức tạp, đa dạng và hấp dần: đi từ ngạc nhiên đến sự thật, từ xa lạ đến gần gũi, từ lo sợ đến hòa hợp, từ buồn tủi đến tươi vui, từ bóng tối đến ánh sáng.

Những người dân ngụ cư: khi biết Tràng "nhặt được vợ", những người dân ngụ cư cũng mừng cho anh mà cũng lo thay cho anh. Việc Tràng có vợ làm cho những khuôn mặt hốc hác vì đói cũng rạng rỡ hẳn lên. Xóm ngụ cư đói nghèo tăm tối đang bị đè nặng bởi nạn đói rùng rợn bỗng dưng "có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào". Sau niềm vui ấy là những tiếng thở dài ngao ngán lo thay cho Tràng không biết đôi vợ chồng trẻ ấy có nuôi nổi nhau qua nạn đói rùng rợn này không? Họ nhìn theo Tràng và bàn tán với nhau bằng nhũng lời đầy ngạc nhiên.

Ngay đến Tràng, chú rể cũng lấy làm ngạc nhiên. Tràng thuộc tầng lớp của những người nghèo khổ, dưới đáy cùng của xã hội xóm ngụ cư, sống hiu quạnh cùng mẹ già trong cái xóm tồi tàn ở mé sông. Ngày xưa, kiếp ngụ cư tủi nhục trăm bề. Họ bị dân chính gốc khinh rẻ, không ai gả con gái cho, vì rằng như thế là vô phúc:

Trai làng ở góa còn đông 

Cớ sao em lại lấy chồng ngụ cư?.

Anh có một ngoại hình rất dễ gây ấn tượng cho người đọc. "Hắn bước ngật ngưỡng trên con đường khẳng khiu. Hắn vừa đi, vừa tủm tìm cười, hai con mắt nhỏ tí, quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhính những ý nghĩ vừa lý thú, vừa dữ tợn… Trẻ con trêu đùa, Tràng ngửa mặt lên cười hềnh hệch, cái áo nâu Tràng vắt sang một bên cánh tay, cái đầu trọc nhẵn chúi về phía trước".

Là người lao động, nên đằng sau cái ngoại hình thô kệch ấy, vẫn tiềm ẩn những phẩm chất đáng quý: Tràng có một trái tim nhân hậu dễ đồng cảm với những người đang rơi vào cảnh khốn cùng. Khi gặp người đàn bà sắp chết đói, Tràng đã vỗ vào túi, khoe “Rích bố cu" – giàu tiền. Đằng sau câu nói bốc đồng ấy, hình như ẩn chứa một niềm tự hào của con người giàu chữ tâm, sự chân tình và Tràng đã chiêu đãi một cách hào phóng, bằng một bữa tiệc bánh đúc. Thấy thị ăn một cách tội nghiệp, Tràng động lòng thương, bảo thị "Này, nói đùa chứ có về với tớ thì ra khiêng hàng lên xe rồi cùng về", Tràng nói đùa, mà thị theo về thật. Đùa mà hóa thật, khiến anh chợn nghĩ "Thóc gạo này đến cái thân mình cùng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng". Nghĩ rồi bâng khuâng lo sợ. Nhưng Tràng tặc lười: "Chậc kệ". Thế là… Tràng dẫn người đàn bà lạ về làm vợ, để xây dựng gia đình, tiếp nối sự sống. Trên bờ vực thẳm của cái chết, họ tìm đến sự sống. Tràng vui sướng vì sự kiện to lớn, bất ngờ của đời anh: Anh đã có vợ, anh đang dẫn vợ về nhà. Đói, chết tràn lan, mình cũng đói, mẹ già cũng đói. Thế mà lại lấy vợ vào lúc này! Thật lạ lùng và thú vị. Có lúc anh cảm thấy ngượng ngập, lúng túng: "Hắn định nói với thị một vài câu rò tình tứ mà chẳng biết nói thế nào. Hắn cứ lúng ta lúng túng, tay nọ xoa vào tay kia". Có lúc trong lòng hắn lại trào lên một tình cảm mới lạ, anh cảm thấy: "một cái gì mới mẻ, lạ lắm… Nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng". Người phụ nữ đang theo anh về nhà từ một người xa lạ giờ đây trở nên gần gũi hơn. Anh như quên đi cảnh ngộ éo le của mình: Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mắt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn và người đàn bà đi bên".

Còn khi về đến nhà thì anh lại cảm thấy ngượng ngập bởi hoàn cảnh chua xót của mình: "Cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại". Đây là lúc anh phải đối diện với thực tại, với hoàn cảnh, với cuộc đời khắc nghiệt. Nhìn người phụ nữ đang ngồi trên chiếc giường của mình mà Tràng cứ ngờ ngợ như không phải thế: "Ra hắn đã có vợ rồi ư?". Câu hỏi này đã thể hiện tâm trạng ngạc nhiên đến ngỡ ngàng của người trong cuộc. Tràng không dám tin vào sự thật bởi tình huống diễn ra nhanh chóng quá, như là một giấc mơ.

Mãi đến khi bà cụ Tứ về nhà, Tràng mới tìm được một chỗ dựa tinh thần, anh hồi hộp theo dõi thái độ của mẹ, đến khi thấy mẹ bằng lòng thì "Tràng thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi". Như vậy là từ tâm trạng "ngạc nhiên" đến "sự thật", từ "lạ lẫm" đến "gần gũi", từ "lo sợ" đến "hòa hợp", từ "buồn tủi" đến "tươi vui", từ "xa lạ" đến "thân mật" rồi thành "vợ chồng". Niềm hạnh phúc bình dị của người lao động nghèo khổ đã tìm đến với Tràng. Sáng hôm sau, Tràng thức dậy muộn, anh cảm thấy "Trong người êm ái, lửng lơ như người từ trong giấc mơ đi ra”. Anh chợt nhận ra "xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ. Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ, gọn gàng". Tất cả đang thay đổi cùng với cuộc đời anh. Chỉ mới hôm qua thôi, hạnh phúc vẫn như trong mơ mà giờ đây đã trở thành hiện thực. Người vợ mà anh nhặt được cũng trở nên hiền lành, đúng mực. Một tình cảm yêu thương dâng lên bên trong lòng Tràng: "Bỗng nhiên, hắn cảm thấy hắn thương yêu gắn bó với cấn nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình, hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy…. một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng". Trước đây anh không hề để ý tới "Lá cờ đỏ sao vàng" và đoàn người đi phá kho thóc Nhật, giờ đây hình ảnh ấy bám riết lấy tâm trí anh "trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới" và "tự dưng hán thấy ân hận, tiếc rẻ, vẩn vơ khó hiểu". Đây có thể nối là sự nhận thức tất yếu từ "bóng tối" đến "ánh sáng", bước đầu giác ngộ lý tưởng cách mạng, lý tưởng tự do của Đảng trong anh.

Xưa nay hôn nhân là một việc đại sự như dân gian vẫn thường nói:

Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà

Cả ba việc ấy thực là khó thay (đều là việc thiêng)

Con gái lấy chồng giàu nghèo cũng phải có cưới xin tử tế. Nhưng không, tủi nhục thay cho thân phận người đàn bà vợ nhặt, "vợ theo không", chẳng cưới hỏi gì. Đó là "vợ Tràng", bởi ngay cả cái tên thị cũng không có. Thị trở thành vợ Tràng như một trò đùa. Lần đầu thị làm quen Tràng bởi "Câu hò chơi cho đỡ nhọc" của Tràng và những lời trêu ghẹo của bạn bè "Thị ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng" rồi "liếc mắt cười tít". Thị đang mong chờ một cái gì đó dù chỉ là mong manh cho tương lai tăm tối của mình. Lần thứ hai gặp lại, ngay đến chính Tràng cũng không nhận ra thị nữa vì thị "rách quá", "quần áo tả tơi… gầy sọp hẳn đi". Thị sà xuống "cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc” chẳng chuyện trò gì, cái đói đã đẩy lùi sĩ diện, nhân cách: Và thị đã không băn khoăn theo Tràng về làm vợ chỉ với một ý nghĩ "cho khỏi đói", để sống cái đã. Xưa nay, trong truyền thống đạo lý Việt Nam, chuyện tỏ tình vốn mang màu sắc tình tứ, duyên dáng, e lệ. Ây thế mà giờ cũng chỉ trần trụi là câu chuyện lăn xả vào miếng ăn, để sau đó làm người vợ nhặt của gã đàn ông xa lạ kia. Thế mới biết đói ghê gớm đến mức nào! về nhà Tràng, Thị cứ "ngồi ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần".

Sao vậy? mẹ Tràng chưa về có ai đâu mà giữ lễ? Kỳ thực cái thế ngồi chông chênh ấy cũng là cái thế của lòng thị, đời thị. Thị đã phải "nén một tiếng thở dài" thất vọng khi trông thấy gia cảnh của Tràng, khi nghĩ đến quá khứ tăm tối và tương lai chông chênh, xa vời của mình. Thị bỗng dưng buồn, buồn lắm, tủi lắm, nỗi đau không trào nước  mắt mà lặn vào trong, càng đau càng tủi. Ấy thế, nhưng chỉ sau một đêm làm vợ Tràng, thị đã khác hẳn "Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực, không có vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ngoài tỉnh". Nếu hôm qua, cái đói đã làm mất đi những gì tốt đẹp ở thị, thì hôm nay, chỉ sau bữa ăn no, một đêm ngủ ấm, cái tốt đẹp lại trở về với thị. Thị bắt đầu vun vén cho tổ ấm của mình "thị quét dọn sân nhà sạch sẽ, gánh nước đổ đầy ang". Cho đến lúc này thị mới cảm thấy chuyện làm vợ của mình là chuyện thật. Thị đã có một người chồng tốt, một người mẹ đôn hậu, một mái nhà yên. Tuy cuộc sống còn khó khăn thúc bách nhưng một ngày mai tươi sáng, yên ấm đang thực sự đến rất gần khi một ngày mới, một lá cờ đỏ thắm, một tương lai tươi sáng, một chân trời mới đang dần hiện hữu.

Bà cụ Tứ, mẹ Tràng càng gây được nhiều thiện cảm với người đọc. Có thể nói bà cụ Tứ là nhân vật được xây dựng thành công nhất trong truyện ngắn Vợ nhặt. Người đọc có thể dễ dàng tìm thấy từ hình tượng nhân vật này hình ảnh bao bà mẹ Việt Nam cần cù, chịu thương, chịu khó, rất mực thương con và lúc nào cũng hướng về cái thiện, hướng tới tương lai.

Nỗi niềm tâm sự của bà cụ Tứ được nhà văn Kim Lân khắc họa sinh động trong tình huống câu chuyện với những yếu tố tương phản độc đáo. Người trong cuộc cũng như người ngoài đều có tâm trạng ngạc nhiên trước những điều kỳ lạ đó. Khi bà lão trở về ngôi nhà dột nát của mình, bà bỗng thấy một người đàn bà lạ mặt xuất hiện trong nhà mình "Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng U? Thế này là thế nào?". Lúc đó bà lão không tin ở tai, mắt mình nữa "Bà lão hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn vì tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn ra thì phải". Sau những giây phút ngạc nhiên đến sững sờ như thế, bà cụ Tứ đã hiểu ra sự việc: "Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi, lòng người mẹ nghèo khổ ấy, còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự vừa ai oán, vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình". Tâm trạng của bà diễn biến với nhiều sắc thái khác nhau: niềm vui xen lẫn nỗi buồn, nỗi lo xen lẫn với tâm trạng mừng vui, cảm động… "Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út. Bà lão nghĩ đến cuộc đời khổ cực dài dằng dặc của mình…". Bà là người đã trải qua cuộc đời đầy vất vả, khổ đau với bao nỗi éo le trong cuộc sống. Vì vậy trước sự kiện con trai nên vợ, nên chồng, bà xốn xang bao suy nghĩ và bao sắc thái tâm trạng khó có thể diễn tả hết được. Bà vui mừng vì con trai của mình đã lấy được vợ. Niềm vui có con dâu, vì hạnh phúc của con làm cho "gương mặt u ám vì già nua và đói nghèo của bà cũng rạng rỡ hẳn lên". Nhưng đằng sau niềm vui là nỗi buồn tủi, bà buồn tủi cho con mình; bởi "người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy con mình. Mà con mình mới có được vợ". Nỗi lo âu là tâm trạng day dứt bà nhiều nhất, bà băn khoăn: "biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không… May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó".

Càng nghĩ, bà thêm buồn tủi cho thân phận mình, tủi vì làm mẹ mà không lấy nổi vợ cho con. Nay con có vợ rồi, lại phải cưới vợ theo cách ấy, không dạm hỏi, cưới cheo. "Chao ôi, người ta dựng vợ, gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm ra, những mong sinh con, đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt…". Đó vừa là giọt nước mắt buồn tủi, vừa là giọt nước mắt mùng vui, cảm động. Tình thương con hơn lúc nào hết dâng lên mãnh liệt trong lòng bà, bà thương con mình đã đành, bà còn rất thông cảm và thương người con dâu mới "bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót. Nó bây giờ là con dâu trong nhà rồi". Bà cũng hiểu thấu đạo lý, cũng nghĩ đến một tiệc cưới nho nhỏ để báo với gia tiên và với mọi người "kể có làm được dăm ba mâm cơm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai chấp nhặt chi cái lúc này. Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi! Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá!".

Nhà văn Kim Lân rất hiểu nỗi niềm của người nghèo. Nhà văn đã phân tích quá trình diễn biến tâm lý nhân vật, sự đan xen của nhiều sắc thái tâm trạng rất chân thực và cảm động. Dù niềm vui hay nỗi buồn, dù nỗi lo toan hay tủi phận thì người mẹ Việt Nam vẫn thể hiện một tấm lòng yêu thương, độ lượng. Chính vì tình thương con mà bà cụ Tứ đã kìm nén nỗi buồn, nỗi lo để động viên, an ủi các con. Bữa cơm ngày đói thật thảm hại "giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành". Trong bữa ăn, bà cụ Tứ toàn nói chuyện tốt đẹp mai sau: "Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính… ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy chốc mà có ngay đàn gà cho mà xem". Bà nhìn cuộc sống bằng đôi mắt rất lạc quan, bà tin rằng cuộc sống của những đứa cháu mình sẽ khá giả hơn, bởi "không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời". Cái triết lý lạc quan ấy là triết lý dân gian, là cách nghĩ của những người lao động, dù họ có rơi vào hoàn cảnh éo le, đau khổ như thế nào, họ cũng không đánh mất niềm tin vào cuộc sống "những người đói họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống" – Kim Lân.

Bằng những chi tiết chân thực, gọi cảm, ngôn ngữ chính xác, nhân chuyện Tràng nhặt được vợ giữa cảnh chết đói, Kim Lân đã diễn tả thật đặc sắc, sinh động, tinh tế, chân thực tâm trạng bà cụ Tứ, một bà mẹ nông dân tội nghiệp đáng thương mà cũng đáng trọng biết bao; bởi một tấm lòng nhân ái bao la, đầy tinh thần vị tha cao cả ẩn giấu đằng sau tấm thân còm cõi vì già nua tuổi tác và đói nghèo, ở bà, bản chất tốt đẹp của người lao động Việt Nam vừa được thể hiện qua suy nghĩ, vừa được thể hiện qua hành động. Qua đây, tác giả cũng đã làm nổi rõ ý thức của người lao động về truyền thống, đạo lý cao cả của dân tộc.

Phân tích tình huống độc đáo và hấp dẫn trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân – Bài làm 7

Nói đến nghệ thuật truyện ngắn, người ta thường coi ba yếu tố sau đây là cơ bản nhất: tình huống truyện, nhân vật truyện và cách trần thuật. Có nhiều truyện ngắn, sự sáng , tạo tình huống đóng vai trò then chốt. Đặt vào tình huống ấy, nhân vật truyện bộc lộ sâu sắc tâm lý, tính cách. Tư tưởng của thiên truyện cũng nhờ thế mà được thể hiện đậm đà. Và xoay quanh tình huống ấy, các tình tiết cũng trở nên hấp dẫn.Truyện Vợ nhặt của Kim Lân thuộc loại tác phẩm như thế.

Tình huống của Vợ nhặt thể hiện ngay ở tên truyện Một anh nông dân “nhặt” được vợ. Mà nào anh ta có bảnh bao hấp dẫn gì: vừa nghèo, vừa xấu trai, lại là dân ngụ cư. Vậy mà chỉ “tầm phơ tầm phào” mấy câu mà có vợ theo về.

Sự hấp dẫn của tình huống truyện trước hết là ở đó. Như một nghịch lý, nó gây ngạc nhiên cho mọi người trong xóm ngụ cư, cho bà cụ Tứ, mẹ Tràng, và cho cả bản thân Tràng là kẻ đã “nhặt” được vợ.

“… người trong xóm lạ lắm: Họ đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán…” Đến khi hiểu ra là Tràng có vợ theo về, thì họ lại càng ngạc nhiên hơn nữa. Người thì “cười lên rung rúc’. Người lại lo dùm cho anh ta Ôi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ dài về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?”

Bà cụ Tứ hiểu tỉnh cảnh con mình hơn ai hết nên càng khó tin Tràng có vợ. Thấy có người đàn bà đứng ngay ở đầu giường còn mình, bà cụ cứ ngơ ngác tự hỏi: ”Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Sao lại chào mình bằng u? Ai thế nhỉ?” Bà cụ làm sao hiểu nổi. Nghèo như con bà ai người ta thèm lấy mà có vợ được. Vả lại trời làm đói khát thế này, nuôi thân chẳng nổi, lấy gì nuôi vợ nuôi con? Bản thân Tràng cũng lấy làm lạ cho mình. Nhìn vợ, ngồi ngay giữa nhà, anh ta “vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”

Đúng là một tình huống thật lạ. Nhưng khi hiểu ra rồi thì lại thấy có gì đáng ngạc nhiên đâu. Cái lý do dễ hiểu biết bao, nhưng cũng buồn tủi biết bao, tội nghiệp biết bao! Điều này, bà cụ Tứ gần hết đời người phải làm bạn với cái nghèo mới thật sự thấm thía: “Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con trong lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Con mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà cụ rủ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau cho qua được cơn đói khát này không?”

Lòng bà cụ thật là ngổn ngang trăm mối: vừa mừng vừa lo, vừa vui vừa tủi. Mừng vui vì dù sao con mình cũng cd vợ, điều mà bổn phận làm mẹ bà đã không lo nổi cho con:  ừ thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng. Nhưng lo buồn, tủi nhục vì “người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình, Mà con mình mới có vợ được…”

Như thế là tình huống truyện đã làm bộc lộ sâu. sắc tâm trạng, tính cách các nhân vật Bà cụ Tứ do từng trải nhiều nên tâm lý diễn biến phức tạp hơn cả. Còn Tràng thì lo ít, vui nhiều. Mới đầu cũng “chọn”, nhưng liền sau đó chặc lưỡi mặc kệ!”. Trên đường đưa vợ về  nhà, thấy người ta tò mò nhìn ngó, “hắn lại lấy vậy làm thích ý làm, cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình. Niềm vui át hẳn nỗi lo, đến nỗi anh ta không hiểu được tại sao vợ lại buồn, mẹ lại khóc: “Chán quá  chẳng đâu vào đâu tự nhiên cũng khóc”.

Bỗng nhiên “nhặt” được vợ, hạnh phúc đến với Tràng quá lớn và quá đột ngột. Mãi đến sáng hôm sau anh ta vẫn còn thấy “trong người êm ái lửng lơ như người vừa ờ trong giấc ma di ra”. Và cùng với niềm vui, ý thức về  bổn phận, về trách nhiệm đối với cái tổ ấm của mình, cũng nảy sinh. Anh ta thấy thương yêu gắn bó với mọi người, với cái nhà, cái sân, khoảnh vườn của mình một cách lạ lùng. “Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người”

Buồn tủi nhất là tâm trạng của người vợ Tràng “nhặt” được. Lấy chồng là chuyện thiêng liêng là sự phó thác cả cuộc đời minh cho người đàn ông mà mình yêu quý. Vậy mà chị ta nào có biết Tràng là ai, tốt xấu thế nào đâu. Chỉ một câu hò bâng quơ và mấy bát bánh đúc riêu cua là theo ngay về, Cái đói đã đẩy người đàn bà đến chỗ chẳng còn biết xấu hổ là gì, mất hết ý thức tự trọng, thấy mình không hơn gì cái rơm cái rác, người ta có thể “nhặt” được nơi đầu đường, xó chợ…

Tác giả “Vợ nhạt” quả đã sáng tạo được một tình huống truyện thật độc đáo. Một tình huống vừa rất hiện thực, vừa mang nhiều ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.

Lên án tội  ác của bọn đế quốc Nhật Pháp đã gây ra cho nhân dân ta nạn đói khủng khiếp mùa xuân năm 1945, đã là đề tài của hàng loạt tác phẩm thơ văn sau Cách mạng tháng Tám, 1945 (Thơ Văn Cao, truyện ngăn, tiểu thuyết của Nguyên Hồng, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi. ..v.v.) Với Vợ nhặt, Kim Lân đã giải quyết đề tài ấy một cách riêng vừa vô cùng cảm động, vừa buộc người ta đọc phải suy nghĩ nhức nhối, day dứt mãi, lớp thanh thiếu niên ngày nay đọc chắc không thể tưởng tượng nổi cái giá của con người đã cd lúc rẻ mạt đến thế. Nghĩa là không bằng con vật. Cái Tý của Chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố vẫn còn cao giá hơn nhiều. Chỉ vài bát bánh đúc mà thành vợ  hẳn hoi, thân phận con người như thế có  hơn gì cỏ rác. Bọn phát xít thực dân đã từng đấy nhân dân ta đến nông nỗi như thế đấy. Lời kết tội của Vợ  nhặt thật là ngắn gọn sâu sắc thấm thía biết  bao!

Nhưng chủ đề  của Vợ nhặt không chỉ cổ thế. Tình huống truyện đã đặt nhân   vật   kề bên nanh vuốt của   cái   chết. Một không khí chết chóc   cứ len lỏi trong tác phẩm với  mùi khói, khét lẹt của những đống rấm trong nhà có  người  chết  lan tới và tiếng hờ khóc ngoài xóm   lọt vào tỉ tê lúc to lúc nhỏ… Nhưng qua tâm trạng của các nhân vật, nhất là Tràng và bà cụ Tứ, thấy người dân lao động tin ở sự sống, vẫn hy vọng ở tương lai, cũng khao khát một tổ ấm gia đình để được thương yêu nhau và cùng chia sẻ vui buồn, để có bổn phận với nhau cũng như có trách nhiệm với đời…

Đó là bản chất lạc quan của  nhân dân lao động. Một   chủ nghĩa lạc quan có căn cứ gì rõ   rệt – “Ai giàu ba họ, ai   khó ba đời“ vẫn tồn tại dai dẳng ở những con người luôn sống hết mình với cuộc sống trong lao động và đấu tranh để sinh tồn.