Uncategorized

Phân tích truyện ngắn “Đời thừa” của Nam Cao

Phân tích truyện ngắn “Đời thừa” của Nam Cao
5 (100%) 480 votes

Phân tích truyện ngắn “Đời thừa” của Nam Cao – Bài làm 1

Loading...

Truyện ngắn Đời thừa viết năm 1943. Có thể xem Đời thừa, về mặt chủ đề, góp phần chuẩn bị trực tiếp cho tiểu thuyết Sống mòn của nhà văn hoàn thành vào năm sau đó, năm 1944. Không phải ngẫu nhiên mà cả hai tác phẩm đều có tính chất tự truyện và nhan đề đều bộc lộ một tâm trạng, một tư tưởng sáng tạo gần gũi nhau.

van mau phan tich truyen ngan doi thua của nam cao Phân tích truyện ngắn “Đời thừa” của Nam Cao

Đời thừa viết về cuộc sống của một trí thức nghèo, một nhà văn. Hộ là một con người trung thực, thương yêu vợ con, rất có trách nhiệm đối với gia đình, là một người cầm bút có suy nghĩ đúng đắn, nghiêm túc về nghề pghiệp, có hoài bão xây dựng được mội tác phẩm thật có giá trị “sẽ làm mờ hết các tác phẩm cùng ra một thời”, thậm chí có thể được trao giải Nobel. Nhưng trong thực tế, Hộ phải chịu bao nhiêu cảnh buồn lo, cực nhục trong cuộc sống. Hộ phải làm quần quật nhưng vẫn không kiếm đủ tiền để nuôi sống gia đình, chạy chữa thuốc men cho một bầy con nhỏ quặt quẹo, ốm luôn. Là một người đàn ông, một người chồng, một người cha có tinh thần tự trọng, Hộ rất khổ tâm trước cảnh nhà túng thiếu, nhất là nhìn thấy Từ, vợ mình, người đàn bà đã chịu nhiều đau khổ với người tình cũ, đến với mình đầy ân nghĩa, lại phải chịu đựng, lầm lũi, vất vả quá. Lúng túng, khổ tâm vì chuyện gia đình. Hộ không mấy khi được ngồi viết văn một cách thanh thản, thực hiện được những điều mình ưa thích, mong muốn. Và bất chấp động cơ, ý nghĩa tốt đẹp, Hộ phải viết một cách cẩu thả, bôi bác, đế kiếm tiền, tạo ra những sản phẩm mà mỗi lần đọc lại “hắn lại đỏ mặt lên, cau mày, nghiến răng, vò nát sách mà mắng mình như một thằng khốn nạn”. Những sự dằn vặt trong gia đình vì nghèo, vì cảnh vợ con nheo nhóc, thêm sự bất mãn, sự xấu hổ trong việc viết văn mà Hộ thiết tha và đặt bao nhiêu hi vọng, càng ngày càng biến Hộ thành một người bẩn tính, thô bạo, bất cần. Hộ mắng chửi vợ con, say rượu liên miên. Nhưng mỗi khi tỉnh lại, Hộ lại buồn bã, hối hận, càng thương vợ thương con và tự trách mình.

Qua tác phẩm của Nam Cao, ta thấy những người tốt, những người có mơ ước hoài bão, những người lao động trung thực, cần cù, sao mà khổ quá, khổ cả về vật chất và tinh thần!

Trong hoàn cảnh như vậy, những người như Từ chỉ biết chịu đựng, nhẫn nhục, và càng hiểu chồng, thương chồng. Nhưng Hộ là một nhà văn, Hộ càng thấy hoàn cảnh sống thật là nặng nề, không lối thoát, một bi kịch thật sự. Hộ có lúc nói ra miệng là vợ con làm khổ mình, nhưng trong thâm tâm anh biết không phải như vậy. Chẳng biết trách ai, anh tự trách mình, xỉ vả mình, gặm nhấm một mình nỗi bất bình và đau khổ.

Nhân vật chính trong tác phẩm là nhà văn. Cho nên trong tác phẩm, thông qua cuộc sống và nhất là suy nghĩ của nhân vật Nam Cao đã đề cặp trực tiếp đến một vấn đề mà ông thường xuyên quan tâm, đó là vấn đề sáng tạo nghệ thuật, quan niệm và yêu cầu của ông về văn chương.

Hộ rất thiết tha với nghề văn. Sáng tạo văn chương là khát vọng, là lí tưởng của đời Hộ. Lúc đầu, Hộ coi khinh những lo lắng tùn mùn về vật chất, dồn hết tâm sức vun trồng cho cái tài mỗi ngày một thêm nảy nở. Hộ đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán. Hộ biết đi vào nghề văn sẽ nghèo, sẽ khổ, nhưng Hộ chấp nhận. Văn chương cũng mang lại cho Hộ niềm vui không gì sánh được. Mỗi lần Hộ tâm sự với vợ nhân đọc được một đoạn văn hay:

« … Này, Từ ạ… Nghĩ cho kỉ, đời tôi không đáng khổ mà hóa khổ, chính tôi làm cái thân tôi khổ, tôi mê văn quá nên mới khổ. Ấy thế, mà tuy khổ thật, nhưng thử có người giàu bạc vạn nào thuận đổi lấy cái địa vị của tôi, chưa chắc tôi đã đổi. Tôi cho rằng: những khi được đọc một đoạn văn như đoạn này, mà lại hiểu được tất cả cái hay thì dẫu ăn một món ngon đến đâu cũng không thích bằng. Sướng lắm! Sao thiên hạ lại có người tài đến thế?”

Loading...

Theo Hộ, một tác phẩm thật có giá trị, tác phẩm Hộ mong viết được trong cả một đời văn của mình, không thể chỉ có giá trị địa phương thôi, không chỉ tả được cái bề ngoài của xã hội, mà “Phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau dớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tính bác ái, sự công bình. Nó làm cho người gần người hơn”

Chắc chắn đó cũng là mong ước, là yêu cầu của Nam Cao về một tác phẩm hay, về văn chương. Văn chương không chỉ là nghề mà còn là nghiệp, một sự ràng buộc, một nhu cầu nội tại văn chương, về phương diện sáng tác cũng như thưởng thức, là nỗi đau mà cũng là niềm vui, là hạnh phúc, tự nguyện của từng người. Văn chương là lĩnh vực của tài năng, của sự liên tài. Tác dụng cao quý của văn chương là nhân đạo hóa xã hội và cuộc sống, làm cho con người cảm thông với nhau, gần gũi nhau.

Nam Cao phê phán nghiêm khắc bệnh cẩu thả trong văn chương xem những người viết văn cẩu thả là những tên bất lương. Ông viết: “Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”. Nam Cao cũng khẳng định rất rõ ràng viết văn, làm nghệ thuật là tìm tòi phát hiện, sáng tạo: không ngừng, mang đến cho người đọc một cái gì lạ, một cái gì mới, một cái gì độc đáo, mà điều này thì chỉ có tài năng và công phu mới làm được. Nam Cao viết: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”!

Đó là quan niệm rất chính xác, một yêu cầu rất cao về văn chương. Nhà văn, nghệ sĩ tất nhiên phải biết “hành nghề”, phải am hiểu về kĩ thuật, phải “khéo tay” ở một mức độ nhất định, nhất là trong một số ngành nghệ thuật nào đó, chẳng hạn như điêu khắc, biểu diễn âm nhạc v.v… Nhưng nhà văn, nghệ sĩ, về bản chất hoạt động mà nói, không phải là người thợ, cho dù là thợ khéo tay, làm theo những kiểu mẫu có sẵn, theo “đơn đặt hàng” của người khác. Văn chương nghệ thuật là hoạt động tinh thần, là “Thôi thúc bên trong” là tình cảm, tư tưởng không nén nổi của người nghệ sĩ cất lên thành lời, thành nhạc, thành tranh… Chỉ có thứ văn chương “gan ruột”, không viết ra không được đó mới rung động được tâm hồn người khác, mới có giá trị.

Hơn nữa, trong lĩnh vực văn chương, chỉ có thật, chân thành, chưa đủ, mà còn phải sâu sắc, phải mới, “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”. Không sâu sắc, không phát hiện và tạo được cái mới, không có được một cách nhìn mới, tiếng nói mới, thì cũng không thể nào có được một chỗ đứng thật sự trong thế giới nghệ thuật.

Theo Nam Cao những nguời cầm bút chì viết được những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm nông cạn, “diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi”, chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương, là những kẻ vô ích, những người thừa. Trong tác phẩm, Nam Cao đã dùng các khái niệm người thừa, đời thừa theo một nghĩa xác đinh. Thừa là không có ích, không cần thiết cho con người, xã hội. Chỉ có những con người trung thực, những người có suy nghĩ đúng và có yêu cầu về giá trị của con người trong cuộc sống, về sự sáng tạo đích thực, mới biết thế nào là thừa, mới dám nhận và xót xa về tình trạng thừa của mình. Người thừa, đời thừa là một nhận thức, một tiếng kêu về sự vô vị, bế tắc trong cuộc sống.

Chủ đề này Nam Cao đã nêu ra dưới dạng này, dạng khác trong nhiều truyện ngắn của mình, đặc biệt là sau này đã khai thác một cách rộng hơn, sâu hơn trong tiểu thuyết Sống mòn.

Những nhân vật của Nam Cao, đặc biệt là những nhân vật trí thức, thường sống nhiều với nội tâm. Để trình bày đời sống bên trong của nhân vật, có khi tác giả trực tiếp dùng biện pháp miêu tả tâm lí, nhưng lại hay để cho nhân vật tự bộc lộ, tự nói với mình, “độc thoại bên trong”. Trong Đời thừa, Nam Cao cũng kết hợp hai biện pháp: miêu tả những hành động cử chỉ của nhân vật, quan hệ, lời ăn tiếng nói của nhân vật, đồng thời để nhân vật tự bộc lộ, tự nói với mình (độc thoại bên trong). Chính do vậy mà tác phẩm mang nhiều tính chất trữ tình, nhiều đoạn văn thật sự làm xúc động người đọc, vì những sụy nghĩ chân thành, vì những nỗi đau của nhân vật và của chính tác giả. Ở chiều sâu của Đời thừa, có một chất thơ từ niềm khát khao cái đẹp, khát khao một cuộc sống trong đó con người biết thương yêu nhau và có thể sống một cách xứng đáng, có ý nghĩa. Nam Cao hay nói đến Tsêkhốp, mong viết được như Tsêkhốp. Ở Nam Cao, cũng có chất thơ, chất trữ tình, có nỗi buồn, tình yêu thương xót xa đối với con người như ở Tsêkhốp. Và, cũng như Tsêkhốp Nam Cao cảm nhận sâu xa ý nghĩa và bi kịch của cuộc đời trong những cái tư tưởng chừng nhỏ nhặt, vô nghĩa hằng ngày ở xung quanh.

Những cảnh bực bội, thương tâm trong gia đình mà Hộ và Từ đã trải qua, lòng tự tin đến ngông nghênh và sự chán chường, những ý nghĩ cao quý và tầm thường luôn giằng xé tâm trí Hộ trong khi cầm bút, cũng là chuyện thường tình, không có gì đáng nói, nhưng qua tài năng và tâm hồn của Nam Cao đã trở thành nỗi đau, bi kịch của con người, của cuộc sống, nỗi đau và bi kịch của con người thừa, của đời thừa. Tác phẩm của Nam Cao luôn luôn khiến người ta chú ý hơn, nhìn sâu hơn vài cái bình thường, cái hằng ngày ở xung quanh và ở chính mình, sống có ý thức hơn, nhân ái hơn, kéo con người ra khỏi tình trạng nhỏ nhen, lố bịch, độc ác, tự bằng lòng một cách vô lối, tức là làm cho người ta “bất an” như một nhà văn có tên tuổi đã nói về chức năng của văn chương.

Đời thừa có một kết cấu rất tự nhiên. Thực chất đây là một loại truyện không có cốt chuyện. Sự việc hầu như không có gì. Nhà văn có nói qua về quá khứ bất hạnh của Từ, về quá trình Hộ và Từ quen biết nhau và nên vợ nên chồng, về một buổi gặp gỡ giữa Hộ và các bạn làng văn, nhưng tập trung chủ yếu vào suy nghĩ và nỗi khổ tâm củ Hộ vì không được thực hiện nguyện vọng thiết tha của đời mình là viết văn, hoàn thành những tác phẩm thật có giá trị như mình mong ước và tin rằng có khả năng làm được. Lẽ ra phải dồn hết tâm lực cho văn chương, cống hiến cho sự nghiệp cao quý đã lựa chọn tất cả những gì tốt đẹp nhất của mình, thì Hộ lại tất tưởi lo kiếm sống, luôn luôn bị quấy rầy bởi cảnh gia đình nheo nhóc, túng quấn, do đó mà con người cũng trở nên thô bỉ, hèn kém, mộng tưởng ban đầu cũng tàn lụi dần. Tâm trạng của Hộ bị giằng xé một bên là khát khao sáng tạo, vươn tới những đỉnh cao trong văn chương và, bên kia, là những đòi hỏi thực dụng, cấp bách của cuộc sống gia đình vất vả, thiếu thốn hàng ngày. Đặc sắc và chiều sâu của tác phẩm là ở sự giằng xé trong tâm trạng của Hộ, ở chất lượng những suy nghĩ của nhân vật chính phát ngôn cho tác giả về cuộc đời, về sáng tạo văn chương.

Có thể nói nhân vật trong Đợi thừa là một nhân vật – tâm trạng. Chất thơ, chất trữ tình bàng bạc khắp tác phẩm do đấy mà ra.

Chiều sâu và sự mới mẻ của chủ đề, chất lượng suy nghĩ, chất thơ và chất trữ tình đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt cho Đời thừa, cũng như cho nhiều tác phẩm khác của Nam Cao có cấu tạo một cách rất tự nhiên, khiến cho người đọc có thể trở lại nhiều lần với truyện ngắn của ông, dừng lại trên từng ý, từng câu văn ông viết ra.

Phân tích truyện ngắn “Đời thừa” của Nam Cao – Bài làm 2

Nếu kể tên đến những nhà văn hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam ngoài những cái tên như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng… thì Nam Cao là cái tên mà nhiều người trong chúng ta nghĩ đến. Những tác phẩm của ông đã để lại nhiều ấn tượng và suy ngẫm trong lòng người đọc. Đặc biệt là những tác phẩm trước cách mạng tháng Tám. Bên cạnh những tác phẩm nói về đề tài người nông dân thì Nam Cao còn rất thành công với đề tài người trí thức mà tiêu biểu cho chủ đề này là tác phẩm Đời Thừa.

Trước tiên chúng ta hãy tìm hiểu về nhan đề của tác phẩm này. Như chúng ta đã biết thì tác phầm giống như một đứa con tinh thần của mỗi nhà văn nhà thơ. Chính vì thế mà việc đặt tên cho những đứa con ấy rất quan trọng. Nó không chỉ mang đến sự chú ý của độc giả mà còn là ý đồ nghệ thuật của nhà văn nhằm thể hiện tư tưởng nội dung tác phẩm. Ở tác phẩm này cũng vậy, sở dĩ nhà văn lấy tên nhan đề tác phẩm là đời thừa nhằm nói lên cuộc sống bế tắc của những người tri thức trong cái xã hội trước. Nếu như người nông dân bế tắc bị lưu manh tha hóa thì người tri thức cũng rơi vào bế tắc với những bi kịch về văn học nghệ thuật và tình thương. Cái xã hội ấy không tạo điều kiện cho những người tri thức cũng như những tác phẩm văn học của họ phát triển vì gắng nặng cơm áo gạo tiền. Trong cuộc sống người ta chỉ thừa cái quần cái áo, thừa bát cơm đấu gạo. Thế mà ở đây nhân vật Hộ lại thừa đời. Có thể nói anh tư thấy bản thân mình thừa ra để vô vị, vô nghĩa trước cuộc đời, thừa ra với người thân thừa ra với chính bản thân mình. Đồng thời qua tác phẩm này ta sẽ thấy được những quan niệm sáng tác văn học của nhà văn hiện thực Nam Cao.

Cuộc đời nhân vật Hộ được phân tích dựa trên hai bi kịch lớn. đó là bi kịch nghệ thuật của nhà văn và bi kịch tình thương của anh với gia đình mình. 
Trước hết là bi kịch nghệ thuật, quan điểm của Hộ trước khi gặp Từ, đó là cái thời hoài bão của anh còn rất lớn. Đối với người nghệ sĩ như anh thì đói rét không có nghĩa lý gì với một gã trẻ tuổi say mê lí tưởng. Lòng hắn đẹp tâm hồn hắn trong sáng. Không những thế đầu hắn mang một hoài bão lớn đó là “ Cả đời tôi chỉ viết một tác phẩm nhưng tác phẩm ấy sẽ làm lu mờ hết tất cả những tác phẩm ra cùng thời, tác phẩm ấy phải được ăn giải Nô- Ben và phải dịch ra mọi thứ tiếng trên toàn cầu”. Qua những tâm tư của người tri thức ấy ta thấy được một con người đam mê nghệ thuật đến mức quên đi những vụn vặt như chuyện cơm ăn áo mặc thường ngày. Anh luôn ý thức tự giác về nghề nghiệp của mình, ta thấy đây chính là một người nghệ sĩ chân chính. Số ít trong những quan niệm sáng tác của Hộ là “ Văn học không cần đến nhưng người thợ khéo tay làm theo một vài khuôn mẫu có sẵn, mà văn học chỉ dung nạp những người nghệ sĩ biết khơi những gì chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” hay “ Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là bất lương riêng sự cẩu thả trong văn chương là đê tiện”. Qua đây ta có thể khẳng định Hộ là một nhà văn tài năng có nhân cách, có quan niệm đẹp đẽ.

Khi ghép cuộc đời mình vào cuộc đời của Từ thì bi kịch nghệ thuật bắt đầu diễn ra với người nghệ sĩ này. Bây giờ Hộ không còn có một mình nữa Hộ có cả một gia đình để lo toan với những gồng gánh bận rộn tẹp nhẹp. Vợ thì đói rách con cái thì mai ôm nay đau, đứa nào cũng nhiều đẹn nhiều sài, quấy rức suốt cả ngày. Hộ phải kiếm tiền nuôi gia đình bằng cách viết văn và viết thật nhiều. Chính vì thế mà anh không thể nào đợi viết một tác phẩm cả đời được. Có những bài văn anh đọc rồi lại quên luôn, nhưng vì gia đình anh phải đi trái với quan niệm với lương tâm nghề nghiệp của mình. Anh đau khổ nhưng biết làm sao khi cả nhà trông chờ vào đồng lương ít ỏi của anh. Hộ tự thấy xấu hổ mỗi khi đọc lại chính bài viết của mình. Hộ chửi bản thân là một thằng đê tiện, khốn nạn và bất lương. Hộ vỡ mộng và rơi vào bi kịch.

Như vậy ta thấy bi kịch của Hộ không phải là bi kịch của riêng ai mà là cả bi kịch của xã hội thời bấy giờ. Ở đó giá trị con người cuộc sống và tài năng trở nên vô nghĩa. Bị kịch của Hộ chính là sự đối nghịch giữa hoàn cảnh và phẩm giá làm người.

Không chỉ chịu bi kịch của một người nghệ sĩ không được phát triển tài năng của mình mà Hộ còn phải chịu bi kịch của tình thương.

Trước khi xảy ra bi kịch thì Hộ coi tình thương là tiêu chuẩn hàng đầu để xác định nhân cách con người, kẻ mạnh là kẻ biết giúp đỡ người khác. Từ là một cô gái bị tình nhân bỏ rơi, tên tình nhân ấy không những mang đến cho cô đau khổ mà hắn con ra đi mà đẻ lại cốt nhục của mình không thương tiếc không chịu trách nhiệm với cuộc đời của Từ. Thế rồi Từ mang thai đứa con ấy, mẹ già thì mù lòa, và khi ấy chính Hộ đã cúi xuống cứu vớt cuộc đời Từ. Anh chấp nhận nuôi mẹ già và làm cha đứa trẻ trong bụng của Từ. từ đó cho thấy Hộ là một nhà văn giàu tình thương và lòng nhân ái. Và chính vì tình thương mà Hộ chấp nhận bỏ đi hoài bão lớn lao của mình để kiếm tiên nuôi gia đình. Hộ chấp nhận viết những tác phẩm giống như “thứ hồ quấy loãng” và chấp nhận là một kẻ đê tiện để có tiền nuôi gia đình. Tuy nhiên trong sâu thẳm anh vẫn dằn vặt khôn nguôi trước hoài bão của mình.

Thế nhưng khi nhận ra mình chỉ là kẻ bất lương , là một kẻ đê tiện thì Hộ lại trà đạp lên chính tình thương mà mình gây dựng và quan điểm sống của mình. Anh bắt đầu chán nản và tim đến rượu bia. Anh đánh vợ chửi con và trở thành một người chồng vũ phu. Tuy vậy anh luôn sống khổ sở bởi anh không quên được nghệ thuật. Trong Hộ có hai con người dằn xé lẫn nhau: Một là con người của văn chương nghệ thuật, một là con người của cuộc sống đời thường, một sự hi vọng, một sự đau khô u uất. Tưởng rằng tìm đến rượu sẽ làm vơi bớt nỗi đau nhưng ai ngờ chính con ma men lại càng làm nâng lên nỗi đau khổ trong lòng Hộ. Nó biến Hộ thành một kẻ vũ phu và tiếp tục rơi vào bi kịch lần nữa. Mỗi lần tỉnh dậy anh lại càng thấm thía bi kịch của bản thân mình, anh hối hận vì đối sử thô bạo với người thân, anh chửi vả mình và tự cho mình là một thằng khốn nạn.

Như vậy qua đây ta thấy được một tấn bi kịch lớn của người tri thức đương thời. Anh Hộ là một trong những cuộc đời điển hình của những người tri thức. Biết rằng hoài bão lớn lao kia nó luôn ở trong tim nhưng ở xã hội ấy thì nó chỉ làm khổ cho chính người đang mơ ước đến nó mà thôi. Một lần nữa giá trị hiện thực lại được thể hiện ở đây.

Phân tích truyện ngắn “Đời thừa” của Nam Cao – Bài làm 3

Trong các sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng, Trăng sáng được xem như bản tuyên ngôn nghệ thuật của nhà vãn. Hoàn toàn đúng như vậy. Nhưng có điều là quan điếm nghệ thuật của nhà văn lớn luôn suy nghĩ về ‘sổng ‘ và ‘viết ‘ trong suốt cuộc đời cầm bút đó lại được ông phát biểu tương đối hệ thông, thể hiện một chiều sâu và tầm vóc bất ngờ, là trong Đời thừa chứ không phái Trăng sáng…

. Nếu trong Trăng sáng, Nam Cao phê phán rất thấm thìa, rất hay, thứ nghệ thuật lãng mạn thoát ly, coi đó là  ‘ánh trăng giả dối ‘, và chủ trương nghệ thuật chân chính phải trở về đời thực, thì trong Đời thừa, ông còn phê phán cả thứ  ‘tả chân ‘ hời hợt,  ‘chỉ tả dược cái bề ngoài xã Hội ‘. Nhà văn Hộ có ý kiến đích đáng về cuốn sách Đường về của một người bạn sắp dịch ra tiếng Anh: ‘Cuốn  ‘Đường về‘ chỉ có giá trị địa phương thôi, các anh có hiểu không? Người ta dịch nó vì muốn biết phong tục của mọi nơi. Nó chỉ tá được cái bề ngoài của xã Hội. Tôi cho là xoàng lắm! ‘ Xu hướng  ‘tả chân ‘ chỉ được hiểu là  ‘tả… chân ‘, là viết về những cái thực. Phần nhiều tiểu thuyết phong tục thịnh hành khi đó  ‘chỉ tả được cái bề ngoài của xã Hội, là thuộc loại tả chân đó ‘. Đến Nam Cao, Ý thức nghệ thuật của xu hướng hiện thực sâu sắc, mới mẻ hơn. Nhà văn không chỉ đối lập thứ văn chương  ‘giả dối ‘ với văn chương chân thực, mà còn phân biệt đối lập thứ  ‘chân thực ‘ bề ngoài với sự chân thực có chiều sâu của nghệ thuật chân chính.

Ý kiến của Nam Cao về  ‘một tác phẩm thật giá trị‘,  ‘thật là một tác phẩm hay ‘ cho thấy tư tưởng nghệ thuật của nhà văn có một tầm vóc bất ngờ:

‘Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là ‘một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đáu, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần hơn ‘.

Những lời lẽ dường như  ‘bốc dồng ‘ của nhân vật Hộ giữa đám bạn văn xung quanh cốc bia ấy lại là một tuyẻn ngôn nghệ thuật hàm súc, rất đỗi sâu sắc và tiến bộ, thuộc vào những tuyên ngôn nghệ thuật  ‘hay ‘ nhất bây giờ, và giờ đây vẫn còn làm người ta sững sờ… Làm sao mà trong cái bôi cảnh xã Hội thuộc địa đang khủng hoảng hỗn loạn khi đó, có chiến tranh phát xít, bắt bớ, chết đói… các nhà văn cũng đói vàng cả mắt, thị trường vàn chương thì là cái chợ trời bày la liệt hàng thật hàng giả đủ thứ bát nháo, lại có anh nhà văn tỉnh lẻ, hầu như vô danh đang ốm yếu thất nghiệp và có cái gia đình lôi thôi lếch thếch… là Nam Cao ấy, có thể có những suy nghĩ về nghệ thuật nghiêm túc, tâm huyết, có tầm cỡ như thế. Nam Cao đã nói đến điều cốt lõi nhất làm nên giá trị đích thực chân chính phải thấm đượm lý tưởng nhân đạo lớn lao: mang giá trị nhân loại phổ biến, phải đề cập tới những gì liên quan đến vận mệnh con người, vừa mang  ‘nỗi đau nhân tình ‘, vừa khơi gợi niềm tin và khát vọng của con người trong cuộc vật lộn để vươn tới cuộc sống nhân ái, công bằng, hòa hợp… Văn chương  ‘làm cho người gần hơn ‘ – tư tưởng ấy đã gặp Sê-khốp: văn học  ‘hòa giải con người với con người‘. Đẹp đẽ, lớn lao biết bao một tư tưởng như thế.

Cũng qua nhân vật Hộ, Nam Cao đã phát biểu rất hay, rất gan ruột về yêu cầu tìm tòi, khám phá của cái nghề sáng tạo là vãn chương:  ‘Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu dưa cho. Văn chương chí dung nạp dược những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những gì chưa có… ‘. Và để cho nhân vật Hộ mỗi khi đọc lại một cuốn sách hay một đoạn văn ký tên tên mình, được viết ra một cách vội vàng, cẩu thả, lại  ‘đỏ mặt ‘, xấu hổ,  ‘cau mày nghiến răng, vò nát sách ‘ và tự mắng mình như  ‘một thằng khốn nạn (…) một kẻ bất lương (…) đê tiện. ‘ Nam Cao đã ra nghiêm khắc đến thế nào trong yêu cầu đối với lao động văn học, đối với lương tâm, trách nhiệm của người cầm bút.

Có thể nói, hơn bất cứ ở đâu, truyện ngắn Đời thừa cho thấy đầy đủ nhất chẳng những quan điểm nghệ thuật mà còn toàn bộ chất người của Nam Cao, một nghệ sĩ lớn, một trái tim lớn.

Đời thừa không có một cót truyện đầy kịch tính và những tình tiết éo le, li kỳ, không có những nhân vật mà diện mạo, ngôn ngữ, hành vi độc đáo đọc một lần nhỞ mãi… Tức là truyện không mấy hấp dẫn ở bề ngoài. Song không thể không cho rằng đây là một truyện ngắn rất hay, thuộc loại xuất sắc, chứng tỏ một tài năng đã rất chín của tác giả.

Là người đòi hỏi rất cao về việc luôn đổi mới, sáng tạo trong văn chương. Nam Cao đã đem lại sự cách tân to lớn, sâu sắc trong văn xuôi Việt Nam đang trưởng thành nhanh chóng theo hướng hiện đại hóa. Có điều là mặc dù đổi mới táo bạo, truyền của Nam Cao lại không hề có dáng vẻ tân kỳ, độc đáo gì đặc biệt ở ngoài; mà thường rất mực dung dị tự nhiên, hết sức gần với đời sống thực bình thường hàng ngày xung quanh. Song đó là sự dung dị tự nhiên chỉ có thể có ở một cây bút già dặn bậc thầy.

Cốt truyện Đời thừa khá đơn giản, có thể nói là xoàng xĩnh. Chuyện diễn ra một một không gian hẹp: hai vợ chồng tiểu tư sản, có va chạm vì cảnh nghèo, nhưng không có gì gay gắt và không gây biến cố đáng kể gì… Song từ những chuyện dường như tầm thường trong sinh hoạt gia đình hằng ngày ấy, nhà văn đã đặt ra những vấn đề mang ý nghĩa xã Hội, nhân sinh to lớn, sâu sắc, có sắc thái triết học. Vừa là những cảnh đời rất thực, rất quen thuộc, vừa đầy ắp suy nghĩ, tư tưởng. Đạt được như vậy chính vì nhà văn đã sống hết sức sâu sắc cuộc sống, đã quan sát, mổ xẻ suy ngẫm về tất cả những gì trải nghiệm. Truyện của Nam Cao cho thấy tư duy phân tích ở nhà văn đặc biệt sắc sảo. Cái lạ trong tài năng Nam Cao là ở chỗ ông hầu như chỉ viết về những sự thực tầm thường quen thuộc với người đọc nhưng đã soi

chúng dưới ánh sáng rất mạnh của sự phân tích, của tư tưởng, khiên cho những sự thực tưởng như vụn vặt vô nghĩa ấy hiện ra với những khía cạnh mới, mang ý nghĩa sâu sắc bất ngờ. Câu chuyện Đời thừa chỉ xoàng xĩnh thế thôi, nhưng bao vấn đề hệ trọng trong đời sống tinh thần thời đại đã được đặt ra một cách đầy ám ảnh: cá nhân và xã Hội, lý tưởng và hiện thực, nghệ thuật và tình thường, nhân vật và hoàn cảnh…

Xung đột truyện không phải giữa các nhân vật chính diện và phản diện, thông trị và bị trị, mà là xung đột gay gắt dai dẳng ở trong nội tâm nhân vật. Và đó cũng là phản ánh sự xung đột không thế điều hòa giữa con người và các xã Hội thù địch với con người. Vì vậy, truyện vừa có không khí hết sức chân thực, chân thực trong từng chi tiết nhỏ nhất, vừa mở ra những vùng tư tưởng rộng lớn, man mác ý vị triết lí sâu xa. Có điều, chất triết lý ở đây không chút trừu tượng, siêu hình, mà là những suy nghĩ khái quát vắt ra từ cuộc đời lam lũ vất vả đầy mồ hôi nước mắt, từ những cơn giằng xé chảy máu của một tâm hồn trung thực và dũng cảm, luôn bám sát vào đời sống và cố vươn tới chân lý. Chất suy nghĩ, triết lý này đem đến cho Đời thừa một giọng điệu riêng.

Xây dựng nhân vật Hộ, Nam Cao không quan tâm đến việc khắc họa tính cách bằng những nét cá tính độc đáo gây ấn tượng đậm – khác với đám nhân vật trong Giông tố, Sổ đỏ, Tắt đèn và cả Chí Phèo. Ông tập trung đi sâu vào đời sống nội tâm nhân vật và làm nổi bật bi kịch tinh thần của người trí thức đó. Và ở đây, nổi bật sở trường miêu tả sự diễn biến tâm lý và cho thấy quy luật tâm lý con người. Có thể nói, trong đội ngũ tác giả văn xuôi đông đảo nhiều tài năng đương thời chưa ai có được ngòi bút tinh tế, sâu sắc trong việc khám phá, thể hiện tâm lý như Nam Cao. Sức hấp dẫn nghệ thuật của Đời thừa – và của mảng sáng tác về người tiểu tư sản của Nam Cao – một phần quan trọng cũng là ở đó.

Phân tích truyện ngắn “Đời thừa” của Nam Cao – Bài làm 4

Đời thừa là truyện về một nhà văn nghèo bất đắc dĩ. Đề tài ấy không thật mới: đương thời đã có Mực mài nước mắt (Lan Khai) Nợ văn (Lãng Tử) nhiều trang tuỳ bút của Nguyễn Tuân nhiều vần thơ của Tản Đà Nguyễn Vỹ Trần Huyền Trân… hai câu thơ rất quen thuộc của Xuân Diệu: "Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt – Cơm áo không đùa với khách thơ"… Tất cả đều đã nói thấm thía về cảnh nghèo túng đáng thương của người cầm bút.

Đời thừa cũng như một số sáng tác của Nam Cao gần gũi với nó về đề tài giọng điệu tư tưởng: Trăng sáng Nước mắt Sống mòn… – đã ghi lại chân thật hình ảnh buồn thảm của người tri thức tiểu tư sản nghèo. Tuy không đến nỗi quá đen tối "tối như mực" lắm khi "đen quánh lại" – chữ dùng của Nguyễn Tuân – như cuộc sống của quần chúng lao động thường xuyên đói rét thê thảm nhưng cuộc sống của những người "lao động áo trắng" những "vô sản đeo cổ cồn" đó cũng toàn một màu xám nhức nhối: "không tối đen mà xam xám nhờ nhờ" (Xuân Diệu). Vì nghèo túng triền miên vì "chết mòn" về tinh thần.

Trong bức tranh chung về cuộc sống người tiểu tư sản nghèo Nam Cao đã góp vào những nét bút rất mực chân thật và sắc sảo làm cho hình ảnh vừa bi vừa hài của lớp người này trở nên đầy ám ảnh.

Trong mảng sáng tác về đề tài tiểu tư sản của Nam Cao Đời thừa có một vị trí đặc biệt. Cũng như tiểu thuyết Sống mòn Đời thừa là sự tổng hợp của ngòi bút Nam Cao trong đề tài tiểu tư sản là tác phẩm đã thể hiện khá hoàn chỉnh tư tưởng nghệ thuật cơ bản của nhà văn. Có điều trong khuôn khổ truyện ngắn sự tổng hợp ấy không xảy ra trên bề rộng mà chủ yếu tập trung đi vào bề sâu.

Giá trị của Đời thừa không phải chỉ ở chỗ đã miêu tả chân thật cuộc sống nghèo khổ bế tắc của người trí thức tiểu tư sản nghèo đã viết về người tiểu tư sản không phải với ngòi bút vuốt ve thi vị hoá mà còn vạch ra cả những thói xấu của họ v.v…

Cách nói đó dường như xác đáng song chỉ thấy một lớp ý nghĩa lớp thứ nhất lớp bên trên của tác phẩm. Mà với Nam Cao cách nhìn như vậy thật tai hại vì nó "bất cập" vô tình thu hẹp và hạ thấp rất nhiều tầm tư tưởng của truyện. Khác với các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan Ngô Tất Tố Vũ Trọng Phụng truyện của Nam Cao thuộc loại có nhiều lớp nghĩa tư tưởng truyện không phải luôn trùng khít với nội dung cuộc sống đựơc phản ánh trong truyện. Trong khi dựng lại chân thật tình cảnh nhếch nhác của người trí thức nghèo ngòi bút Nam Cao đã tập trung xoáy sâu vào tấn bi kịch tinh thần của họ qua đó đặt ra một loạt vấn đề có ý nghĩa khái quát xã hội và triết học sâu sắc.

Chuyện Hộ "mê văn" có "hoài bão lớn" về văn chương và khao khát tên tuổi chói sáng là một hiện tượng phổ biến có ý nghĩa điển hình.

Với Đời thừa (sau đó là Sống mòn) Nam Cao đã đề cập gần như trực diện tới vấn đề cá nhân nói lên yêu cầu được khẳng định và phát triển của cá nhân – vấn đề mà lâu nay người ta tưởng đâu chỉ đặt ra trong văn học lãng mạn đương thời.

Quả là chủ đề cá nhân không có trong sáng tác của Ngô Tất Tố Nguyễn Công Hoan nhưng lại là chu đề tâm huyết của Nam Cao. Và niềm khao khát được làm đầy trái tim khao khát được sống mạnh mẽ sâu sắc chói sáng vượt lên trên cái bằng phẳng tầm thường sự ghê sợ điệu sống mòn mỏi đơn điệu vô vị… là những điều da diết ở tác giả Phấn thông vàng Kinh cầu nguyện của những kẻ đi làm tác giả Thiếu quê hương Tuỳ bút (I II) Chiếc lư đồng mắt cua… nhưng cũng chính là những điều nung nấu ở tác giả Đời thừa Sống mòn. Chủ đề ấy chính là một biểu hiện mới mẻ của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam thế kỷ XX này. Có điều là nếu như phần nhiều cái "tôi" trong văn học lãng mạn trong khi giãy giụa "nổi loạn" "chống lại xã hội thù địch với nó nó càng ngày càng khép kín chỉ còn tự thực hiện và tự "phát triển" trong sự đối lập với xã hội; thì ở Nam Cao yêu cầu khẳng định và phát triển cá nhân luôn gắn liền với trách nhiệm xã hội hướng theo lí tưởng nhân tạo tiến bộ. Hoài bão cá nhân mà Hộ say mê đạt tới để tự khẳng định trước cuộc đời là một sự nghiệp văn chương nhưng là thứ văn chương chân chính mang tinh thần nhân đạo cao đẹp "nó ca ngợi tình thương lòng bác ái sự công bình"…

Có lẽ trong văn học đương thời không ai ngoài Nam Cao đã đặt ra vấn đề cá nhân một cách đúng đắn và tiến bộ như vậy.

Nhưng cái xã hội ấy nếu kích thích sự thức tỉnh ý thức cá nhân thì đồng thời đã đẩy cá nhân vào tình trạng bị đè bẹp. Đó là tất cả tấn bi kịch đang diễn ra ngấm ngầm trong đời sống tinh thần thế hệ 1930 khi đó.

"Hoài bão lớn" mà Hộ quyết đạt tới bằng một ý chí phi thường đã không thể thực hiện được. Hộ gặp Từ giữa lúc người con gái bất hạnh đó đang "đau đớn không bờ bến": bị một gã Sở Khanh bỏ rơi với đứa bé mới đẻ… Hộ đã "cuối xuống nỗi đau khổ của Từ (…) mở rộng đôi cánh tay đón lấy Từ". Trước số phận đau khổ của con gnười anh không còn có thể coi "nghệ thuật là tất cả" mà đã hành động như một con người chân chính. Nhưng điều đó đã gây nên nguy cơ phá hỏng sự nghiệp của anh. Từ khi "ghép cuộc đời của Từ vào cuộc đời của hắn hắn có cả một gia đình phải chăm lo". Hộ không thể "khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất" như trước đây mà trái lại phải ra sức kiếm tiền. Và "những bận rộn tẹp nhẹp vô nghĩa lí nhưng không thể không nghĩ tới ngốn một phần lớn thì giờ của hắn". Nhưng không phải chỉ thì giờ.

Vì phải kiếm tiền – trong điều kiện khả năng của Hộ cách kiếm tiền duy nhất là sáng tác – Hộ không thể viết thận trọng nghiêm túc theo yêu cầu của nghệ thuật chân chính. Anh "phải cho in nhiều cuốn văn viết vội vàng (…) phải viết những bài báo để người ta đọc rồi quên ngay sau lúc đọc". Đây là điều vô cùng đau đớn với một người  như Hộ. Không phải anh không được viết mà là phải viết thứ văn chương mà một người có lí tưởng nghệ thuật cao đẹp có lương tâm nghề nghiệp có khát vọng vươn tới đỉnh cao nghệ thụât như anh không thể nào chấp nhận được. Thế là Hộ đã phản bội lại chính mình. Nhà văn chân chính nơi anh cảm thấy hết sức đau đớn nhục nhã chứng kiến gã "bất lương" "đê tiện" cũng chính là anh đang làm thứ hàng giả: "Chao ôi! Hắn đã viết những gì? Toàn những cái vô vị nhạt nhẽo gợi những tình cảm rất nhẹ rất nông diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi. Hắn chẳng đem một chút mới lạ gì đến cho văn chương".

Là người hiểu rất rõ viết văn là một hoạt động sáng tạo không ngừng phải "khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có" Hộ cay đắng nhận ra rằng mình "là một kẻ vô ích một người thừa" bởi vì "hắn chẳng đem một chút mới lạ gì đên cho văn chương". Người nghệ sĩ sáng tạo trước đây trong Hộ đã chết. Hộ đau buồn vô hạn vì cảm thấy đời mình đã bỏ đi không gì cứu vãn được: "Thôi thế là hết! Ta đã hỏng! Ta đã hỏng đứt rồi!". Tấn bi kịch tinh thần đau đớn của Hộ là ở đó.

Đây không phải chỉ là bi kịch của một nhà văn không thành đạt cũng không phải là bi kịch "vỡ mộng" của những chàng trai nghèo tỉnh lẻ cay cú muốn nhập vào xã hội thượng lưu Pari nhưng bị ném trả tàn nhẫn trong tác phẩm của Banzắc. Đây là bi kịch của con người có ý thức sâu sắc về sự sống muốn vươn lên một cuộc sống chân chính trong đó cá nhân được phát triển bằng sự nghiệp tinh thần có ích cho xã hội nhưng đã bị nhấn chìm trong lối sống mà anh ta rất khinh ghét vì không xứng đáng với con người. "Còn gì đau đớn cho một kẻ vẫn khát khao làm một cái gì để nâng cao giá trị đời sống của mình mà kết cục chẳng làm được cái gì chỉ những lo cơm áo mà đủ mệt?". Trong Sống mòn cuốn tiểu thuyết dày dặn đã triển khai một cách hệ thống chủ đề này tiếng kêu đó lại cất lên một cách thống thiết: "Đau đớn thay những kiếp sống khao khát muốn lên cao nhưng lại bị áo cơm ghì sát đất!" Cũng như nhà văn Hộ anh giáo Thứ đau đớn vì cuộc đời khốn nạn cứ bắt anh phải sống "cái lối sống quá ư loài vật chẳng biết một việc gì ngoài cái việc đổ thức ăn vào dạ dày"! Đó là nỗi đau tinh thần to lớn không nguôi và không gì có thể xoa dịu được đối với người trí thức khát khao sáng tạo khát khao khẳng định trước cuộc đời "khao khát muốn lên cao"…

Xoáy sâu vào bi kịch tinh thần này Nam Cao đã lên án sâu sắc cái hiện thực tàn nhẫn đã vùi dập mọi ước mơ hoài bão của con người tước đi ý nghĩa sự sống chân chính thật sự xứng đáng với con người.

Nhưng tấn bi kịch tinh thần của nhà văn Hộ không chỉ có thế. Từ cái bi kịch đau đớn dai dẳng vì phải sống cuộc "đời thừa" Hộ cũng đã lâm vào một bi kịch thứ hai cũng rất đau đớn thậm chí đau đớn hơn nữa. Đó là bi kịch của con người coi tình thương là nguyên tắc là đạo lí cao nhất nhưng lại vi phạm vào chính nguyên tắc đạo lí thiêng liêng đó của mình.

Trước mắt Hộ có một con đường giải thoát: thoát li vợ con. Có thế anh mới có thể rảnh rang theo đuổi sự nghiệp văn chương là lẽ sống của đời anh. Tức là để đạt được "hoài bão lớn" thực hiện được lí tưởng mà anh hằng say mê anh phải tự gỡ bỏ sợi dây ràng buộc của tình thương. Đã có cả một triết lí cao siêu đầy hấp dẫn bênh vực khuyến khích anh làm điều đó. Một triết gia nổi tiếng phương Tây đã ném ra câu nói hùng hồn: "Phải biết ác biết tàn nhẫn để sống cho mạnh mẽ". Câu nói có giọng điệu của chủ nghĩa siêu nhân của Nitsơ tư tưởng gia tiền bối của chủ nghĩa phát xít đó không phải không có sức hấp dẫn đối với những kẻ đang khát khao "sống cho mạnh mẽ" khao khát khẳng định cá nhân như Hộ.

Nhưng mặc dù nỗi đau đớn vì "đời thừa" to lớn đến đâu nỗi mong mỏi được giải thoát mãnh liệt đến đâu. Hộ vẫn không thể lựa chọn cách giải quyết ấy. Bởi vì thoát li vợ con để rảnh thân – dù là vì gì chăng nữa – vẫn cứ là tàn nhẫn vứt bỏ lòng thương. "Hắn có thể hi sinh tình yêu thứ tình yêu vị kỉ đi; nhưng hắn không thể bỏ lòng thương; có lẽ hắn nhu nhược hèn nhát tầm thường nhưng hắn vẫn còn được là người". Như vậy là với Hộ tình thương là tiêu chuẩn xác định tư cách làm người; không có tình thương con người chỉ là "một thứ quái vật bị sai khiến bởi lòng tự ái". Khi cuộc đời tàn nhẫn buộc anh phải lựa chọn một trong hai thứ: nghệ thuật và tình thương anh đã hi sinh nghệ thuật để giữ lấy tình thương hi sinh lẽ sống thứ nhất cho lẽ sống thứ hai dù đây là sự hi sinh quá lớn đối với anh. Như vậy là một lần nữa người nghệ sĩ say mê lí tưởng nghệ thuật có thể hi sinh tất cả cho nghệ thuật ấy đã hi sinh nghệ thuật cho tình thương cái mà anh còn thấy cao hơn cả nghệ thuật. Việc dứt khoát đặt tình thương trách nhiệm đối với con người lên trên nghệ thuật như vậy cũng như lời phát biểu của Hộ về thế nào là một tác phẩm văn chương "thật giá trị" cho thấy cái gốc nhân đạo sâu vững của nhà văn lớn Nam Cao.

Sự lựa chọn của Hộ ở đây khó khăn phức tạp và cao hơn sự lựa chọn của Điền trongTrăng sáng. Ở Điền là sự lựa chọn giữa hai con đường nghệ thuật: lãng mạn thoát li và hiện thực nhân đạo; lựa chọn giữa hai lối sống: hưởng lạc phù phiếm chạy theo sự quyến rũ của những "người đàn bà nhàn nhã ngả mình trên những cái ghế xích đu nhún nhẩy" phản bội lại vợ con và tất cả những người nghèo khổ lam lũ lầm than hay trở về chỗ đứng giữa họ chung thuỷ với họ. Từ bỏ nghệ thuật lãng mạn thoát li để đến với nghệ thuật hiện thực với Điền là cưỡng lại sự quyến rũ tội lỗi là sự thức tỉnh của lương tâm sự giác ngộ của tâm hồn. Sự lựa chọn ấy đem đến cho Điền niềm yên tâm và sức mạnh mới.

Ở Hộ có khác. Anh từ bỏ nghệ thuật không phải như từ bỏ một đam mê tội lỗi cũng không phải như từ bỏ một sở thích sở nguyện. Nghệ thuật với anh có ý nghĩa lớn lao thiêng liêng hơn nhiều. Đó là lẽ sống đời anh là lí tưởng anh hằng theo đuổi là cái chứng tỏ sự có mặt của anh trên cõi đời này. Chính vì vậy mà tuy Hộ không băn khoăn nhiều khi phải lựa chọn tình thương trách nhiệm thay cho nghệ thuật khi từ chối lời kêu gọi thoát li vợ con để được "sống cho mạnh mẽ" và thực hiện "hoài bão lớn" của đời mình nhưng sau sự lựa chọn ấy anh không thể yên tâm thanh thản mà vẫn đau khổ dai dẳng lúc ngấm ngầm âm ỉ lúc nhói lên dữ dội. Và anh cứ bị giày vò bởi mặc cảm cay đắng là đang sống một cách vô ích vô nghĩa là "một người thừa". Con người "khao khát bay lên cao" và không thiếu tài năng và ý chí để thực hiện khao khát của mình ấy làm sao không đau khổ u uất trong tình cảnh đó? Hộ đã cố hi vọng sau vài năm bỏ phí để kiếm tiền cho người vợ có được cái vốn con để làm ăn anh lại có thể trở lại với con đường sự nghiệp của mình. Nhưng cuộc sống cơm áo ngày càng chẳng dễ dàng khiến cho hi vọng của Hộ trở thành hão huyền và tình cảnh của Hộ trở nên hoàn toàn bế tắc. Gánh nặng cơm áo chẳng hề nhẹ đi mà cứ ngày càng nặng thêm mãi: "Đứa con này chưa kịp lớn lên đứa con khác đã vội ra mà đứa con nào cũng nhiều đẹn nhiều sài quấy rức khóc mếu suốt ngày đêm và quanh năm uống thuốc. (…) Hộ điên người lên vì phải xoay tiền". Và những "bận rôn tẹp nhẹp vô nghĩa lí" đó chẳng những làm tiêu tan hi vọng về sự nghiệp của Hộ mà còn thường xuyên phá hoại sự yên tĩnh thư thái của tâm hồn là điều rất quan trọng đối với người trí thức sáng tạo: " Hắn còn điên lên vì con khóc nhà không lúc nào yên tĩnh để cho hắn viết hay đọc sách. Hắn thấy mình khổ quá bực bội quá. Hắn trở nên cau có và gắt gỏng. Hắn gắt gỏng với con với vợ với bất cứ ai với chính mình. Và nhiều khi không còn chịu nổi cái không khí bực tức ở trong nhà hắn đang ngồi bỗng đứng phắt lên mắt chan chứa nước mặt hầm hầm vùng vằng đi ra phố vừa đi vừa nuốt nghẹn". Đi ra phố để thoát khỏi "không khí bực tức ở trong nhà" hay tìm người bạn nào để nói chuyện văn chương cho vơi nỗi lòng nhưng chẳng đi đâu trốn được bản thân mình Hộ chỉ càng nung nấu thêm tâm sự u sầu: "Hắn lặng lẽ nghĩ đến cái tác phẩm dự định từ mấy năm nay để mà chán ngán. Hắn thừ mặt ra như một kẻ phải đi đày một buổi chiều âm thầm kia ngồi trong một làn khói nặng u buồn mà nhớ quê hương (…) Lòng hắn rũ buồn"…

Như một thông lệ người nghệ sĩ bất đắc chí ấy tìm đến sự giải sầu giải uất trong men rượu. Nhưng cả rượu cũng chẳng làm vơi đi mà chỉ như càng làm cho anh thấm thía thêm nỗi khổ sở đắng cay của mình. Và anh trút nó vào vợ con mà anh thấy là nguồn gốc trực tiếp của tình cảnh bế tắc của đời anh. Con người giàu tình thương đã từng hi sinh những gì quý giá thiêng liêng của mình cho tình thương và trách nhiệm đối với vợ con đó đã hơn một lần đối xử phũ phàng thô bạo với vợ con mình như một gã vô lại. Anh đã gây khổ cho người vợ rất đáng thương "rất ngoan rất phục tùng rất tận tâm" đối với anh và cũng khổ sở không kém gì anh. Tức là anh đã vi phạm vào nguyên tắc đạo lí làm người cao nhất của chính mình.

Thành ra muốn "nâng cao giá trị sự sống" bằng cao vọng về sự nghiệp thì cứ phải sống như một kẻ "vô ích" một "người thừa"; chỉ còn cò thể cố giữ lấy tình thương như là lẽ sống cuối cùng thì lại cứ tàn nhẫn luôn gây khổ cho những người cần được yêu thương đáng được yêu thương.

Cái bi kịch thứ nhất – không thực hiện được hoài bão lớn – tuy rất đau đớn nhưng còn lí do để an ủi: hi sinh sự nghiệp vì tình thương c òn bi kịch thứ hai này – lẽ sống tình thương bị vi phạm – thì không có gì an ủi biện hộ được. Và nếu Hộ phải từ bỏ con đường sự nghiệp là do áp lực của hoàn cảnh thì sự vi phạm vào nguyên tắc tình thương lại trực tiếp do bản thân anh. Vì thế mà nó chua xót vô cùng . Tỉnh rượu nhớ lại hành vi của mình Hộ hối hận tới đau đớn. Khi rón rén bước lại gần người vợ đang nằm bế con ngủ mệt trên võng nhận ra từ cái "dáng nằm thật là khó nhọc và khổ não" "cái tướng vất vả lộ ra cả đến trong giấc ngủ" từ khuôn mặt xanh xao có cạnh có đôi mắt thâm quầng đến bàn tay "xanh trong xanh lọc" "lủng củng rặt những xương"… tất cả đều "lộ một cái gì mềm yếu một cái gì ẻo lả" "một vẻ bạc mệnh một cái gì đau khổ và chật vật" Hộ đã "khóc núc nở" nước mắt "bật ra như nước một quả chanh mà người ta bóp mạnh"… Anh đau đớn vì nghĩ đến lối cư xử tồi tệ của mình đối với người vợ đáng phải được anh an ủi che chở đó… Tiếng khóc của Hộ cũng giống như tiếng khóc của nhân vật Thứ trong Sống mòn – nghe tin Đích ốm nặng Thứ thầm mong Đích chết và ngay lúc ấy Thứ đã khóc – là những tiếng khóc "khóc cho cái chết của tâm hồn". Hộ nghẹn ngào nói với Từ giọng nói đẫm nước mắt: "Anh… anh… chỉ là… một thằng… khốn nạn". Anh không thể nào tha thứ cho mình.

Trong sáng tác Nam Cao đã nhiều lần đề ập và ca ngợi nuớc mắt. Nhân vật tiểu tư sản của ông có không ít tật xấu và lỗi lầm nhung thường là những người hay bị hối hận giày vò và thường khóc vì hối hận. Đó không phải là thứ "hối hận" ồn ào hời hợt của những kẻ lấy việc xỉ vả mình để khoe khoang; cũng không phải thứ hối hận có chu kì củ nhiều kẻ tiểu tư sản dùng để xoa dịu cái lương tâm rách nát của mình trong khi vẫn buông mình theo cái xấu. Mà đó là sự giằng xé chảy máu của những tâm hồn trung thực khát khao hướng thiện. Với Nam Cao nước mắt là biểu tượng của tình thương và ông gọi nước mắt là "giọt châu của loaì người" là "miếng kính biến hình vũ trụ". Giọt nước mắt của Hộ lúc này đã thanh lọc tâm hồn nâng đỡ nhân cách của anh giữ anh lai trước vực thẩm sa ngã.

Điều đáng chú ý là trong khi miêu tả rất chân thực tình trạng con người bị đẩy vào chỗ phải tàn nhẫn Nam Cao vẫn dứt khoát lên án cái ác bảo vệ tình thương. Nếu đương thời không ít cây bút gọi là "tả chân" là "xã hội" đã đồng tình biện hộ và đề cao những nhân vật vứt bỏ lương tâm vứt tình thương yêu đồng loại tự cho phép làm điều ác nhân danh sự trả thù xã hội bất công tàn bạo thì Nam Cao trước sau không bao giờ chấp nhận cái ác. Nhân vật của ông dù lâm vào tình thế bi kịch bế tắc vẫn vật vã quằn quại cố vươn lên lẽ sống nhân đạo.

Song nước mắt chỉ là… nước mắt; nó đâu phải là sức mạnh vạn năng để có thể xoay lại cuộc đời cứu được loài người! Nhân vật của Nam Cao vẫn bế tắc và bi kịch của họ không cách gì gỡ ra được. Tác phẩm của Nam Cao không mở ra triển vọng cho sự giải thoát. Và thực ra làm cho con người "thoát khỏi những xiềng xích của cái đói và cái rét" (Sống mòn) để không chỉ hoạt động kiếm sống trong "vương quốc tất yếu" mà còn có thể bước ra hoạt động trong "vương quốc tự do" – the cách nói của Mác – để con người có thể phát triển tự do và toàn diện là việc mà lịch sử không dễ dàng thực hiện. Nhưng từ những câu chuyện sinh hoạt thường nhật bề ngoài tầm thường Nam Cao đã gióng lên tiếng chuông báo động về sự huỷ diệt giá trị sự sống và nhân cách. Đó cũng là lời kêu cứu thống thiết: hãy bảo vệ tình thương để cứu lấy con người và con người hãy tự cứu lấy mình!

Xây dựng nhân vật Hộ Nam Cao không quan tâm đến việc khắc hoạ tính cách bằng những nét cá tính độc đáo gây ấn tượng đậm – khác với đám nhân vật trongGiông tố Số đỏ Tắt đèn và cả Chí Phèo. Ông tập trung đi sâu vào đời sống nội tâm nhân vật và làm nổi bật bi kịch tinh thần của người trí thức đó. Và ở đây nổi bật sở trường miêu tả phân tích tâm lí con người của nhà văn nhất là khi miêu tả sự diễn biến tâm lí và cho thấy quy luật tâm lí con người. Có thể nói trong đội ngũ tác giả văn xuôi đông đảo nhiều tài năng đương thời chưa có ai có được ngòi bút tinh tế sâu sắc trong việc khám phá thể hiện tâm lí như Nam Cao. Sức hấp dẫn nghệ thuật củaĐời thừa – và của mảng sáng tác về người tiểu tư sản của Nam Cao – một phần quan trọng cũng là ở đó.

Phân tích truyện ngắn “Đời thừa” của Nam Cao – Bài làm 5

Ai làm cho khói lên giời,

Cho mưa xuống đất, cho người biệt li;

Ai làm cho Nam, Bắc phân kì,

Cho hai hàng lệ đầm đìa tấm thân…

Giống như âm điệu lời hát ru này, trong các sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám, những trang viết về đời sống người trí thức nghèo thường ướt đẫm nước mất. Đọc trang văn của ông, có cảm giác không phải ông đang "viết văn", mà như đang lắng nghe tiếng nói từ sâu thẳm tâm hồn mình, rồi lấy nước mắt chính mình mà viết ra, kể ra những bi kịch đau đớn của đời mình và của bạn bè mình.

Đời thừa là một trường hợp tiêu biểu cho những trang viết như thế. Ta dường như đồng thời có thể lắng nghe từ truyện ngắn này âm điệu của nhều tiếng nói pha hoà vào nhau : tiếng nói của khát vọng, tiếng nói của tình thương và cả tiếng nói của nổi đau…

Mọi khát vọng cao đẹp của người trí thức nghèo – thường là nhà giáo, nhà văn – trong sáng tác của Nam Cao, suy cho cùng và nói một cách giản dị, là được sống và viết sao cho thật sự đàng hoàng, tử tế. Nhưng cái khát vọng rất đẹp mà cũng rất chính đáng, bình dị này hoá ra lại là quá cao siêu, xa vời trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam thời Nam Cao. Nhân vật văn sĩ Hộ trong Đời thừa là hiện thân đầy đủ, sinh động cho khát vọng và nỗi đau ấy.

Cả một thời trai trẻ sôi nổi, bồng bột, "rất đáng yêu" của mình, chàng văn sĩ này luôn ôm ấp trong lòng một giấc mộng văn chương đẹp : suốt đời anh sẽ "chỉ viết một cuốn sách thôi", nhưng cuốn đó phải "đoạt giải Nô-ben” về văn học ; nó sẽ "được dịch ra hàng trăm thứ tiếng", sẽ "làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra một thời" (Xin hiểu rằng : với Hộ, cũng như với Nam Cao, cái tác phẩm đoạt giải Nô-ben văn học này, không hề là hình ảnh của một thứ hư danh hay ảo vọng viển vông của tuổi trẻ kiêu căng, trái lại, là biểu tượng đầy đủ cho một khát vọng chính đáng, cao đẹp, đáng được nâng niu, trân trọng).

Khát vọng ấy đã chuyển thành một niềm đam mê cháy lòng mà suốt một thời, Hộ đã từng ngày, từng giờ cố vượt lên chính mình, vượt lên trên hoàn cảnh, để mà theo đuổi, thực hiện. Gương mặt tinh thần của Hộ, đúng như Nam Cao đã giới thiệu, là gương mặt một nhà văn "say mê lí tưởng" : "Lòng hắn đẹp. Đầu hắn mang một hoài bão lớn. Hắn khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất. Hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn ngày một thêm nảy nở. Hắn đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán. Đối với hắn lúc ấy, nghệ thuật là tất cả ; ngoài nghệ thuật không còn gì đáng quan tâm nữa".

Một con người như thế – một người yêu văn chương, say cái đẹp, tôn thờ nghệ thuật như một thứ tôn giáo, giàu đam mê, nghị lực và rất tự tin – không thể là một người tầm thường, bốc đồng, viển vông.

Thế nhưng, giấc mộng văn chương đẹp của chàng văn sĩ này đã vấp phải một lực cản lớn : gánh nặng gia đình, áo cơm. Va đập nặng nề với hiện thực đời sống nghèo túng, mòn mỏi, cái "hoài bão lớn" kia đã dần dần tiêu tan thành mây khói. Hoá ra, cuộc sống gia đình có không ít "những bận rộn tẹp nhẹp, vô nghĩa lí, nhưng không thể không nghĩ tới". Hộ "phải cho in nhiều cuốn văn viết vội vàng", "viết những bài báo để người ta đọc rồi quên ngay sau lúc đọc", "Toàn những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ vãn bằng phẳng và quá ư dễ dãi" ; "chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương",… Và anh giật mình, chua chát nhận ra "một con người rất đáng yêu đã chẳng là mình nữa", trái lại, đã thành "một kẻ vô ích, một người thừa".

Đó là bi kịch của một người buộc phải đi ngược lại quan niệm, mơ ước của mình. Danh dự của con người trong tư cách một nhà văn chỉ được bảo đảm bằng bút lực và khả năng khơi nguồn sáng tạo của anh ta. Bi kịch là ờ chỗ, không phải ai khác, mà chính anh ta đã gần như phải tự minh bôi đen dần danh dự của minh, tự mình phải xoá bó dần hình ảnh tốt đẹp và tên họ kiêu hãnh của minh trong tâm trí người đời bằng những sáng tác hời hợt, vô vị, nhạt nhẽo.

Nhưng Hộ không chỉ là một nhà văn, anh còn là một người chồng, người cha, trụ cột gia đình. Nghĩa là, không phải một người hoàn toàn có quyền sống cho riêng mình, toàn tâm toàn ý theo đuổi đam mê, khát vọng của chính mình. Hơn thế, Hộ lại muốn làm một người chồng, người cha tốt. Phàm đã là "người" thì, theo Hộ, "không thê bỏ lòng thương". Trung thành với quan niệm này, Hộ đã sống như một người nặng tình bác ái, giàu lòng thương. Cứ xem cái cung cách anh săn sóc vợ, "hôn hít" các con, hay cái cung cách anh lặng lẽ nhìn ngắm Từ – người vợ hiền thục của anh – đầy thương cảm trong khi nàng ngủ, thì cũng đủ thấy rõ điều này.

Hơn thế, Hộ còn xem lòng thương như một nguyên tắc, một đạo lí sống. Anh có thể hi sinh nhiều thứ, kể cả tiếng tăm, danh dự, nhưng không thể để mất "lòng thương". Còn giữ được "lòng thương" thì "còn được là người". Mất nó thì trở thành "một thứ quái vật". Với Hộ, "Kẻ mạnh không phải là kể giẫm lên vai kẻ khác để thoa mãn lòng ích kỉ. Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình." Oái oăm thay, chính Hộ là người buộc phải vi phạm cái nguyên tắc "không thể bỏ lòng thương ấy". Khi buồn đời, anh cũng bốc đồng, quá chén như ai và khi đã quá chén thì cũng dễ dàng trở thành một người chồng nhẫn tâm, độc địa như ai. Nhận thức càng rõ điều đó, Hộ càng lâm vào tình trạng đau đớn, dằn vặt, càng mặc cảm nặng nề hơn. Đó là bi kịch chết mòn lòng thương, nhân cách.

Nhưng bi kịch tinh thần đau đớn nhất của Hộ, thực ra, không phải chỉ đơn thuần là chuyện tan vỡ "mộng đẹp" hay chuyện buộc phải từ bỏ "lòng thương".

Cuộc đời đã đặt anh trước một tình huống lựa chọn phi lí, nghiệt ngã : hoặc là mộng đẹp (văn chương), hoặc là tình thương, trách nhiệm (gia đình).

Bi kịch đau đớn nhất của Hộ chính là chỗ này. Dù trong tư cách nào, Hộ cũng nâng niu quý trọng lòng thương. Là người, Hộ không thể bỏ lòng thương đã đành, là nhà văn, anh lại càng không thể từ bỏ nó. Bởi vì, tác phẩm văn chương "thật có giá trị", theo anh, phái "ca tụng lòng thưong tinh bác ái, sự công bình,…", phải "làm người gần người hơn". Thế mà trên thực tế, dù lựa chọn văn chương hay gia đình thì rốt cuộc Hộ cũng buộc phải từ bỏ "lòng thương", và trước sau cũng sẽ trở thành một thằng "bất lương" hay một kẻ “khốn nạn" mà thôi. Thực ra, với Hộ, danh dự, hiếu theo nghĩa đầy dù nhất, chi có thể làm nên khi có đủ cả danh dự làm người và danh dự nhà văn. Nếu như trong tư cách nhà vãn, tìm tòi, sáng tạo là danh dự, thì trong tư cách con người, lòng thương, thái độ quý trọng con người cũng trở thành danh dự. Làm sao để có thể làm một người chủ gia đinh đàng hoàng, tử tế mang lại được niềm vui, hạnh phúc cho vợ con mình, một khi anh là nhà văn hạng bét ; sống bằng nghề văn, nhưng trong văn chương cũng như trong xã hội, anh thực chất chỉ là "một kẻ vô ích", "một người thừa"? Làm sao có thể bằng lòng hãnh diện với một sự nghiệp văn chương, một khi mà dẫu có đánh đổi tất cả giá trị của sự nghiệp cao quý ấy, thì Hộ cũng "không nuôi nổi vợ con" mình?

Mâu thuẫn, xung đột nội tâm ở Hộ đã nảy sinh từ tình huống lựa chọn nghiệt ngã, phi lí này. Không ai có thể giải quyết thay cho Hộ được. Chính anh phải tìm cách giải quyết lấy thôi. Bởi vì, ở đây mâu thuẫn của đời sống xã hội đã trở thành mâu thuẫn của cá nhân người trí thức nghèo, mâu thuẫn "bên ngoài" đã trở thành mâu thuẫn "bên trong".

Nhưng giải quyết bằng cách nào ? Câu trả lời thật không đơn giản. Nó là cả một bài toán khó. Và, Hộ đã loay hoay tìm cách giải quyết bài toán số phận ấy, nhưng thực tế, bao giờ anh cũng hầu như thất bại.

Có những lúc Hộ đã lầm tưởng rằng : anh có thể điều hoà mâu thuẫn này bằng cách, tạm gác giấc mộng đẹp cùng sự nghiệp văn chương lại, "đành phí một vài năm để kiếm tiền", chăm lo cho cái gia đình khốn khổ của mình nhất thời tạm ổn dã. Nhưng mà giải pháp này đã nhanh chóng phô bày tính chất không tưởng của nó : việc viết văn "vội vã" để "kiếm tiền" đã làm cho "một con người rất đáng yêu" tự đánh mất mình, thành một kẻ "đê tiện", "bất lương".

Lại có những lúc, nhất là khi quá chén, Hộ đã lầm tưởng rằng : mọi nguyên nhân nỗi khổ đau, bất hạnh của đời anh chính là gánh nặng gia đình, là người vợ hiền từ và những đứa con đáng yêu kia. Anh muốn thoát bỏ gia đình, mà không được. Bế tắc và buồn chán cao độ, anh đã tìm đến bia, rượu để giải sầu, trốn vào hơi men và phũ phàng trút giận vào người vợ đáng thương của mình trong những cơn chếnh choáng. Để rồi mỗi khi tỉnh rượu, anh lại khổ sở nhận ra ràng mình không nỡ lòng và cũng không đủ "ác", đủ "tàn nhẫn" dứt tình, bỏ mặc vợ con. Những lúc ấy anh đã tự mắng nhiếc mình là "một thằng… khốn nạn".

Khốn khổ và đáng thương thay cho một chàng văn sĩ nghèo, một người chồng, người cha nghèo, giàu lòng thương nhưng cũng đầy bán khoăn mặc cảm về nhân cách như Hộ. Mộng đẹp tan vỡ, đạo sống đẹp cũng không thể thực hiện, người trí thức nghèo của Nam Cao tất yếu lâm vào tình trạng sống "thừa", "chết mòn" với những bi kịch tinh thần đau đớn.

Mâu thuẫn lồng vào mâu thuẫn, nỗi đau hoà vào nỗi đau. Dường như đối với Hộ, mất danh dự làm người trong tư cách nhà văn thì cũng mất luôn danh dự làm người trong tư cách một người chồng, người cha ; và ngược lại, không còn đủ tư cách làm người chồng, người cha thì cũng mất luôn tư cách làm một nhà văn danh giá. Trí thức, hơn ai hết, là những người trọng danh dự. Bi kịch của Hộ càng lớn khi ý thức về nỗi đau mất danh dự càng rõ rệt, dầy đủ.

Những bi kịch đau đớn như thế, Nam Cao hầu như đã từng nếm trải cả. Thách thức còn lại, lớn nhất đối với ông khi viết Đời thừa có lẽ là ở hiệu quả của cách viết : viết làm sao để có thể khơi sâu vào "cõi thầm kín" của nhân vật, sao cho câu chuyện vẽ cuộc dời của nhà văn Hộ cùng những bi kịch tinh thần đau đớn của anh, của những người như anh, trở thành một thứ tiếng nói cất lên từ cõi riêng tư thầm kín nhất, một thứ tiếng nói bên trong…

Ông đã vượt qua thách thức này như thế nào?

Là người hiểu bi kịch và nỗi đau của người trí thức nghèo như hiểu bi kịch và nồi dau của chính mình, viết Đời thừa, Nam Cao gần như đã nhập thân vào nhân vật mà nói thay tiếng nói đau thương khắc khoải, dằn vặt, u uất trong tâm hồn họ.

Cách trần thuật của Nam Cao khá linh hoạt, biến hoá. Ông kể lại những chuyện thường ngày của Hộ, với nhiều điểm nhìn, góc nhìn khác nhau, khi thì bằng ngôn ngữ người kể chuyện, khi thì bằng ngôn ngữ độc thoại nội tâm của nhân vật. Đặc biệt nhà văn đã khéo léo nương theo dòng ý thức của các nhân vật mà kể, dẫn người đọc thám hiểm vào thế giới bên trong, và làm cho truyện ngắn có nhiều đoạn đậm sắc thái trữ tình – triết lí.

Chẳng hạn, đây là đoạn kể theo ngôn ngữ và điểm nhìn của người kể chuyện (ẩn ngầm) : "Ít lâu nay, mỗi lần ra đi. Hộ không chỉ trở về buồn bã mà thôi. Hắn say mềm. Thường thường hắn đã ngủ một nửa ngày từ khi còn ở dọc đường ; và vừa về đến nhà, chưa kịp thay quần áo, tháo giày, đã đổ như một khúc gỗ xuống bất cứ cái giường nào, ngủ say như chết".

Đây là đoạn người kể chuyện kể theo theo điểm nhìn của nhân vật Từ :

"Từ hiểu và Từ buồn lắm, buồn lắm lắm. Còn gì buồn cho bằng mình biết mình làm khổ cho người mà mình yêu ? Nhưng Từ biết làm sao được ? Đã nhiều lần Từ muốn ẵm con đi."

Đây là đoạn người kể chuyện kể theo điểm nhìn của nhân vật Hộ:

"Bây giờ Từ đang thiếp đi trên võng, đứa con nhỏ nằm bên. Từ vốn dậy sớm quen. Sáng nay, chắc Từ mệt quá, vừa mới lịm đi, nên mới ngủ trưa như thế. Đầu Từ ngoẹo về một bên. Một tay Từ trật ra ngoài mép võng, sã xuống, cái bàn tay hơi xòe ra lỏng lẻo. Dáng nằm thật là khó nhọc và khổ não. Hắn bùi ngùi. Chao ôi ! Trông Từ nằm thật đáng thương ! Hèn chi mà Từ khổ cả một đời người ! Cái tướng vất vả lộ ra cả đến trong giấc ngủ. Hộ nhớ ra rằng : một đôi lúc, nếu nhìn kĩ thì Từ khó mặt lắm. Đột nhiên Hộ nảy ra ý muốn lại gần Từ, nhìn kĩ xem mặt Từ lúc bây giờ ra sao ? Hắn rón rén, đi chân không lại. Hắn ngồi xổm ngay xuống đất, bên cạnh võng và cố thở cho thật khẽ. Hắn ngắm nghía mặt Từ lâu lấm. Da mặt Từ xanh nhợt ; môi nhợt nhạt ; mi mắt hơi tim tím và xung quanh mắt có quầng, đôi má đã hơi hóp lại khiến mặt hơi có cạnh. Hộ khẽ thở dài và lắc đầu ái ngại".

Theo đó, cách nhìn trở nên đa diện hơn, để cho câu chuyện cũng như nhân vật chính cũng lấp lánh ánh sáng từ nhiều phía hơn, sắc thái trữ tình cũng đậm hơn.

Tuy vậy, nhiều hơn cả vẫn là cách kể theo điểm nhìn của nhân vật Hộ. Khi đó, ông hoặc nương theo tâm trạng, cảm xúc của nhân vật mà tạo ra chất giọng trữ tình:

"Khốn nạn ! Khốn nạn ! Khốn nạn thay cho hắn ! Bởi vì chính hắn là một thằng khốn nạn ! Hắn chính là một kẻ bất lương !".

Hoặc nương theo những trải nghiệm của nhân vật mà tạo nên chất giọng triết lí :

"Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thoả mãn lòng ích kỉ. Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình".

Hoặc là ông sục vào kí ức (độc thoại nội tâm), lặng lẽ, tỉnh táo phán xét và kết hợp triết lí với trữ tình. Chẳng hạn :

"… Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện. Chao ôi ! Hắn đã viết những gì ? Toàn những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi. Hắn chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương. Thế nghĩa là hắn là một kẻ vô ích, một người thừa. Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nsuồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có… Hắn nghĩ thế và buồn lắm, buồn lắm ! Còn gì buồn hơn chính mình lại chán mình?

Còn gì đau đớn hơn cho một kẻ vẫn khát khao làm một cái gì nâng cao giá trị đời sống của mình, mà kết cục chẳng làm được cái gì, chí những lo cơm áo mà đủ mệt ? Hắn để mặc vợ con khổ sở ư ? Hắn bỏ liều, hắn ruồng rẫy chúng, hắn hi sinh như người ta vẫn nói ư ?".

Cũng phải nói thêm rằng : không phải ngẫu nhiên, mà trong truyện ngắn Đời thừa, những đoạn văn mang sắc thái triết lí cũng nhiều như những đoạn văn mang sắc thái trữ tình, đều chiếm một tỉ lệ đáng kể so với lời người kể chuyện và thường đan xen với nhau một cách rất tự nhiên.

Bởi vì, trữ tình, triết lí hoặc sự kết hợp giữa trữ tình với triết lí ở đây đều góp phần làm nên một tiếng nói bên trong, tự đánh thức lương tri hoặc được soi sáng bói lương tri nhân vật. Lương tri ấy – cũng chính là lí tưởng nhân văn trong đời sống và trong nghệ thuật – có thể làm cho nhân vật hoặc đau đớn, mặc cảm, hoặc rạo rực kiêu hãnh. Đó là những suy tư triết lí hoặc mang quan điểm sáng tác dưới hình thức các "tuyên ngôn nghệ thuật", hoặc mang quan niộm về danh dự, tư cách làm người, cách ứng xử sao cho ra một con người của Nam Cao. Đó cũng là nhũng điều mà văn sĩ Hộ từng đắc ý khắc cốt ghi tâm.

Một mặt, là một nhà văn có lí tưởng, Hộ ngẫm nghĩ nhiều và khá sâu sắc về giá trị của một tác phẩm văn chương đích thực, mang tầm nhân loại ("ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình", "làm cho người gần người hơn",…). Anh cũng đòi hỏi cao về tính độc đáo, sáng tạo của sáng tác văn chương ("khơi những nguồn chưa ai khơi", "sáng tạo những cái gì chưa có",…). Mặt khác, trong tư cách người chồng, người cha, Hộ cũng luôn băn khoăn, ngẫm nghĩ về tình thương, trách nhiệm, danh dự của mình trong khi gánh vác việc gia đình ("kẻ mạnh là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình"; hắn "không thể bỏ lòng thương", "hèn biết bao là một thằng con trai không nuôi nổi vợ con thì còn mong làm nên trò gì nữa ?", V.V.).

Cách xử lí thời gian của Nam Cao trong Đời thừa cũng thú vị, tự nhiên, sáng tạo. Thời gian hiện tại được kể lại chỉ trong khoảng một ngày một đêm (từ sáng hôm trước đến sáng hôm sau) nhưng thời gian quá khứ được kể lại thì không biết chính xác bao nhiêu năm tháng đã trôi qua, chỉ biết là rất dài.

Những sự kiện thuộc về hồi ức được kể dồn vào trong khoảng hai lần "ngẩng đầu lên nhìn Hộ" (lần thứ ba và lần thứ tư) cũa Từ.

Mạch truyện bắt đầu từ hiện tại : "Từ ngửng mặt lên nhìn Hộ ba lần. Ba lần, Từ muốn nói, nhưng lại không dám nói. Hắn đang đọc chăm chú quá. Đôi lông mày rậm của hắn châu đầu lại với nhau và hơi xếch lên một chút. Đôi mắt sáng quắc có vẻ lồi ra. Cái trán rộng hơi nhăn. Đôi lưỡng quyền đứng sừng sững trên bờ hai cái hố sâu của má thì bóng nhẫy. Cả cái mũi cao và thẳng tắp cũng bóng lên như vậy. Cái mặt hốc hác ấy, nghiêng nghiêng bên trên quyển sách, trổng khắc khổ đến thành dữ tợn. Từ thấy sợ…

Từ yêu chồng bằng một thứ tình yêu.

" Sau đó, mạch truyện miên man theo dòng hồi ức của Hộ và Từ (khoảng bốn trang), thuật lại rất nhiều kỉ niêm, sự việc vui buồn, nhiều hành vi cao đẹp cùng những lầm lỡ, bế tắc (từ lúc Hộ còn là "một người rất đáng yêu", đến lúc anh "chẳng còn được là mình nữa").

Rồi lại quay về hiện tại :

" Từ sợ cả nói với chồng. Bởi vậy ba lần nhìn chồng để toan nói, Từ thấy chồng đang đọc sách chăm chú quá, không dám nói, lại cúi mặt xuống nhìn đứa con đang nằm trong lòng Từ. Nhưng Hộ bỗng ngoảnh mặt lên".

Và cứ thế kể về hiện tại cho đến dòng cuối cùng của tác phẩm.

Lối kết cấu và cách tạo mạch lạc như vậy khiến cho truyện ngắn tuy chỉ là một khoảnh khắc, một "lát cắt" nhỏ của đời sống, nhưng vẫn bao quát được cả một quãng đời, và cũng giúp tác giả dễ dàng khơi sâu vào bi kịch tinh thần đau đớn của nhân vật.

Như cái tên của nó, Đời thừa là chuyện đời buồn tủi, ngậm ngùi của một văn sĩ nghèo sống "thừa" bất đắc dĩ. Nam Cao, qua truyện ngắn này, đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh đối với tình trạng "chết mòn", "sống thừa" của người trí thức nghèo trong xã hội cũ, đồng thời cũng rung chuông kêu gọi giã từ cái xã hội đã đẩy con người lâm vào tình trạng bi kịch tinh thần đau đớn như thế.

Cũng như tiểu thuyết Sống mòn, truyện ngắn Đời thừa là tác phẩm thành công đặc sắc, mang đậm dấu ấn những trang đời Nam Cao cùng với khát vọng, tình thương và nỗi đau sâu thẳm của ông.

Phân tích truyện ngắn “Đời thừa” của Nam Cao – Bài làm 6

Truyện tập trung vào bi kịch nhân vật Hộ. Đó là bi kịch của người trí thức nghèo trước Cách mạng tháng Tám. Hộ đã khao khát làm được một việc gì đó để nâng cao giá trị của mình trước toàn xã hội, muốn sống một cuộc sống có ý nghĩa mà cuối cùng chỉ vì gáng nặng áo cơm ghì sát đất mà phải sống một “đời thừa”, những khao khát bị tiêu diệt, những tâm tính tốt nhất cũng bị huỷ hoại.

Ở Hộ có hai bi kịch cơ bản:

Trước hết là bi kịch của một trí thức nghệ sĩ, bi kịch của một nhà văn. Trước kia Hộ là một nghệ sĩ chân chính, sống có lí tưởng, có hoài bão, mơ ước một sự nghiệp văn chương, có quan niệm đúng đắn về tác phẩm nghệ thuật có tính nhân đạo (“Nó phải chứa đựng được một cái gì đó lớn lao mạnh mẽ…Nó làm cho con người gần người hơn”), có quan niệm đúng đắn về đạo đức của người cầm bút (“ Văn chương không cần những người thợ khéo tay…sáng tạo những cái gì chưa có”). Và Hộ đã xả thân cho lí tưởng đó, không nề hà gian khổ. Nhưng khi bước vào cuộc sống với gánh nặng gia đình, Hộ đã dần dần biến thành một cây bút khác hẳn. Khi có cả một gia đình để lo, Hộ không thể sống như trước. Gia đình Hộ muốn sống thì cần phải có tiền. Hộ không thể không nghĩ đến kiếm tiền. Bị đồng tiền làm cho điêu đứng, Hộ đã lao vào kiếm tiền. Trong điều kiện của mình, Hộ chỉ có một phương tiện duy nhất để kiếm sống là ngòi bút, là phải viết. Muốn có tiền thì phải viết nhiều. Muốn viết nhiều thì phải viết nhanh. Muốn viết nhanh thì phải viết ẩu. Thế là Hộ lao vào sản xuất những bài báo nhạt nhẽo, những cuốn sách cẩu thả mà người đọc quên ngay sau khi đọc, còn mình thì mỗi lần đọc lại cảm thấy xấu hổ, bởi đó đều chỉ là những “ý rất nông được quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và nhạt nhẽo”. Bi kịch là ở chỗ, Hộ luôn ý thức về sự cẩu thả của mình: “Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”. Còn gì đau đớn cho bằng muốn làm một nhà văn chân chính, với một nghiệp văn có ý nghĩa rốt cuộc lại thấy mình trở thành một cây bút đê tiện. Hộ đau đớn mà thấy rằng: “Thôi thế là hết! Ta đã hỏng! Ta đã hỏng đứt rồi!”

Không dừng lại ở đó, cuộc sống không chỉ giết chết những hoài bão cao đẹp nhất mà còn huỷ hoại những tâm tính tốt nhất của con người. Hộ rơi vào bi kịch thứ hai. Bi kịch của một con người.

Khi phải đứng trước một sự lựa chọn nghiệt ngã: Một bên là nghiệp văn của cá nhân mình, một bên là sự sống của gia đình, Hộ đã đấu tranh quyết liệt. Tư tưởng vị kỉ đã từng cám dỗ xui khiến anh. Ấy là tư tưởng muốn làm kẻ mạnh thì phải tàn nhẫn. Nghĩa là muốn thành công thì phải từ bỏ gia đình, vợ con. Nhưng Hộ là một con người chân chính, với nguyên tắc sống rất cao cả: Nguyên tắc tình thương. Hộ cho rằng con người khác con quỷ chính là ở chỗ có tình thương đó. Chính kẻ nào biết sống tình thương mới là kẻ mạnh: “Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thoả mãn lòng ích kỉ. Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ người khác trên chính đôi vai mình”.

Và ngay từ ban đầu Hộ đã sống theo đúng nguyên tắc tình thương đó. Hộ đã mở lòng bác ái ra để cứu vớt, cưu mang đời Từ, một nạn nhân đáng thương. Hộ còn phụng dưỡng bà mẹ già của Từ chu tất. Đến lúc này, Hộ sẵn sàng gác bỏ, vứt bỏ sự nghiệp văn chương của mình để lao vào kiếm tiền nuôi nấng vợ con. Nghĩa là Hộ vẫn muốn, vẫn cố duy trì nguyên tắc sống cao cả của mình.

Nhưng cuộc sống tàn bạo đã giết chết luôn tâm tính tốt ấy. Khao khát văn chương bị vùi sâu chôn chặt không chết hẳn, nó vẫn âm ỉ trong lòng. Mỗi khi gặp bạn văn chương hoặc nghe tin sự thành đạt của bạn bè là nó lại bùng lên dằn vặt, đày đoạ Hộ. Hộ cảm thấy thua thiệt, thấy vỡ mộng. Mặc cảm thất bại như một mối hận chất chứa trong lòng thành một thứ trầm uất. Hộ tìm đến rượu để giải sầu. Nhưng rượu càng làm cho mối hận mù quáng kia vón cục lại, không thể tiêu tan. Từ đấy Hộ bắt đầu trút những cơn giận dữ nặng nề mù quáng xuống người thân. Hộ bắt đầu phũ phàng, nhẫn tâm với những người yếu đuối mình hằng mở lòng che chở, cưu mang. Ban đầu Từ ngạc nhiên không hiểu. Về sau Từ lờ mờ hiểu ra và cứ nhẫn nhục chịu đựng. Còn Hộ mỗi lần về nhà bộ dạng chẳng khác gì Chí Phèo! Nhưng có điều sau khi gây ra những chuyện phũ phàng, thô bạo, tồi tệ, Hộ lại ân hận , sám hối. Trong lúc ăn năn chân thành nhất, Hộ đã xỉ vả mình bằng những lời nặng nề: “Anh…anh…chỉ là một …”. Rồi sự ân hận cũng chỉ được vài ngày. Sau đó Hộ lại hành hạ, lại tàn nhẫn…rồi thức tỉnh, ăn năn…Cái vòng luẩn quẩn ấy không bao giờ dứt. Nó đã đầu độc cuộc sống của Hộ và huỷ hoại tất cả những gì là tốt đẹp nhất của một người trí thức như Hộ.

Nam Cao là một nhà văn lớn của nền văn học hiện thực phê phán nói riêng và là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam nói chung. Sở dĩ Nam Cao có một vị trí xứng đáng như vậy bởi cả cuộc đời cầm bút của mình, ông luôn trăn trở để nâng cao “Đôi Mắt” của mình. Tất cả những gì Nam Cao để lại cho cuộc đời chính là tấm gương của một người “trí thức trung thực vô ngần” luôn tự đấu tranh để vươn tới những cảnh sống và tâm hồn thật đẹp. Với những nét tiêu biểu như vậy, Nam Cao đã thể hiện qua một hệ thống các quan điểm sáng tác của mình trước cách mạng tháng Tám.

Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trước cách mạng tháng Tám được thể hiện qua “Trăng Sáng” và “Đời Thừa”. Trong “Trăng Sáng”, nhà văn quan niệm văn chương nghệ thuật phải “vị nhân sinh”, nhà văn phải viết cho hay, cho chân thực những gì có thật giữa cuộc đời, giữa xã hội mà mình đang sống. Ông viết “Chao ôi! Nghệ thuật không là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối! Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp người lầm than”. Đó chính là quan điểm nghệ thuật của Nam Cao. Trước cách mạng, Nam Cao mang tâm sự u uất, đó không chỉ là tâm trạng của một người nghệ sĩ “tài cao, phận thấp, chí khí uất” (Tản Đà) mà đó còn là tâm sự của người người trí thức giàu tâm huyết nhưng lại bị xã hội đen tối bóp nghẹt sự sống. Nhưng Nam Cao không vì bất mãn cá nhân mà ông trở nên khinh bạc. Trái lại ông còn có một trái tim chan chứa yêu thương đối với người dân nghèo lam lũ. Chính vì lẽ đó mà văn chương của ông luôn cất lên “những tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than”.
Trong “Đời thừa”, một tác phẩm tiêu biểu của văn Nam Cao trước cách mạng, Nam Cao cũng có những quan điểm nghệ thuật. Khi mà ta đã chọn văn chương nghệ thuật làm nghiệp của mình thì ta phải dồn hết tâm huyết cho nó, có như thế mới làm nghệ thuật tốt được. “Đói rét không có nghĩa lý gì đối với gã tuổi trẻ say mê lý tưởng. Lòng hắn đẹp. Đầu hắn mang một hoài bão lớn. Hắn khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất. Hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn ngày một thêm nảy nở. Hắn đọc, suy ngẫm, tìm tòi, nhận xét, suy tưởng không biết chán. Đối với hắn lúc ấy, nghề thuật là tất cả, ngoài nghệ thuật không có gì đáng quan tâm nữa…”. Nam Cao còn quan niệm người cầm bút phải có lương tâm và trách nhiệm đối với bạn đọc, phải viết thận trọng và sâu sắc: “sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là sự bất lương rồi, còn sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”. Với Nam Cao, bản chất của văn chương là đồng nghĩa với sự sáng tạo “văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho, văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”. Quan điểm của Nam Cao là, một tác phẩm văn chương đích thực phải góp phần nhân đạo hóa tâm hồn bạn đọc: Nó phải chứa đựng một cái gì đó vừa lớn lao vừa cao cả, vừa đau đớn vừa phấn khởi: “Nó ca ngợi tình thương, lòng bác ái, sự công bình, nó làm người gần người hơn”.
Văn nghiệp của Nam Cao (1915-1951) chủ yếu được thể hiện trước cách mạng tháng Tám. Quan điểm sáng tác thể hiện trong hai truyện “Trăng Sáng” và “Đời Thừa” giúp ta hiểu sâu hơn về Nam Cao. Qua đó, ta thấy được những đóng góp về nghệ thuật cũng như tư tưởng của Nam Cao cho văn học Việt Nam. Từ đấy giúp ta hiểu vì sao Nam Cao – một nhà văn chưa tròn bốn mươi tuổi lại để lại cho cuộc đời một sự nghiệp văn chương vĩ đại đến như vậy.